THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

Hội nghị tòan thể 5

Lượng giá chương trình và các nghiên cứu kết quả

Ngày 21 tháng 08 năm 2002

Chủ tịch                        : Mr. Sorasit Sangprasert                           (Thái lan)

Những người phát biểu  : Dr. Mark Barrett                                    (Singapo)

                                        Prof. Dr. Mahmood Nazar Mohamed (Malaysia)

                                        Dr. Viroj Verachai                          (Thái lan)

                                         Ms. Linda Kaplan                           (Mỹ)

                                        Mr. Crescencio M. Doma, Ir.          (Philippin)

Những người báo cáo   : Mr. Anil Kumar Wali                      (ấn độ)

                                        Mr. S. P. Rajenthiran                      (Malaysia)

Tóm tắt trình bày nguồn nhân lực

          Người phát biểu đầu tiên đã tập trung về nghiên cứu lượng giá của Trại nửa đường dưới sơ đồ cư trú dựa trên cộng đồng ở Singapo. Nghiên cứu đã đánh giá sự thực hiện và kết quả của Trại. Phương pháp luận bao gồm các quan sát, các xem xét và các nghiên cứu được chỉ đạo tại 11 trung tâm, các phân tích của những tỷ lệ hoàn thành và các kết quả giám sát và nghiên cứu định tính sâu hơn của 6 Trại. Nghiên cứu đã được chỉ đạo được 8 tháng và chỉ có một trung tâm thực sự TC thực hiện vào thời gian nghiên cứu đó ở Singapo. Toàn bộ, kết quả của nghiên cứu đã khám phá ra rằng chúng rất ấn tượng với sự tận tâm, hy sinh và cống hiến được thể hiện tại Trại nửa đường để giúp  những người nghiện ma túy chữa khỏi bệnh.

          Người phát biểu thứ 2 tập trung vào chương trình TC tại Trại Pengasih ở Malaysia. Nghiên cứu đã đánh giá sự thực hiện của Trại Pengasih. Hai phương pháp đã được sử dụng để nhận biết những cư dân thay đổi, những người nghiện cũ hoặc những khách hàng đă qua kinh nghiệm ở Trại Pengasih. Những nghiên cứu đã sử dụng bộ câu hỏi Coopersmith Self-Esteem và các nhân tố cá nhân Catte II 16 để nhận biết những thay đổi trong tâm lý cá nhân của họ. Những so sánh được được đưa ra với dữ liệu trước đã tập hợp giữa những người nghiện ma túy. Nghiên cứu tìm thấy rằng trong sự so sánh với số dân nghiện, có nhiều sự cải thiện trong sự cấu thành tâm lý của những cư dân, những người đã trải qua chương trình TC Pengasih.

          Người phát biểu thứ 3 đã tập trung vào một nghiên cứu của điều trị lệ thuộc ma túy tại Bệnh viện Thanyarak ở Thái Lan đã thực hành chương trình TC. Đã có 2881 người đã tham gia chương trình TC trong suốt 1986-2000. Tuy nhiên chỉ 278 trường hợp được chọn cho nghiên cứu đã hoàn thành chương trình này. Sau khi những trường hợp này đã hoàn thành chương trình TC, những khách hàng đã trải qua 5 năm theo dõi. 203 trường hợp hoặc 73% những khách hàng này được tìm thấy là đã kiêng ma túy. 75 trường hợp hoặc 27% cũng được tìm thấy là đã tái nghiện và 21 trường hợp khác hay 7.6% đã chết trong suốt giai đoạn chăm sóc sau điều trị vì bệnh và những tai nạn không có liên quan trực tiếp tới tái nghiện. Những kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra rằng TC Thái tại Bệnh viện Thanyarak là có hiệu quả hơn nhiều trong điều trị những cư dân và có thể so sánh nhanh chóng với các TC khác.

          Người phát biểu thứ 4 đã tập trung vào các phân tích định tính và phân tích định lượng của chương trình. Kế hoạch lượng giá nên có sự nhận biết các sự việc triển vọng, để tập hợp dữ liệu chính xác, trong các cuộc phỏng vấn trực tiếp với những khách hàng, các giám đốc của chương trình và những người trình nguyện. Các thành viên nhân viên cần đào tạo nhiều hơn và tập trung nhiều hơn về việc đánh giá từng khách hàng.

          Người phát biểu thứ 5 tập trung về việc thảo luận một lượng giá hoặc một nghiên cứu kết quả là gì và sự thích hợp trong phạm vi điều trị và lượng giá của những người lệ thuộc ma túy. Ông cũng tập trung về các phương pháp được sử dụng trong thực hiện lượng giá chương trình hoặc các nghiên cứu kết quả bao gồm các cỡ mẫu xác định, các quy trình thu thập dữ liệu, các công cụ đặc trưng được sử dụng và những cái thích hợp.

Vấn đề được thảo luận

l   Có phải là có một số kháng cự bởi những người cố vấn tuyến đầu và những nhà tâm lý học chuyên nghiệp về chủ đề lượng giá?

l  Sự nhất trí trong lượng giá một chương trình là gì?

Những kiến nghị

          Vì thời gian ép buộc nên không có thời gian cho những kiến nghị.

 

Lượng giá chương trình của Trại Pengasih, Malaysia: Một số nhận xét về những sự khác nhau trong việc coi trọng bản thân và các đặc điểm cá nhân

 

Mahmood Nazar Mohamed / Yunus Pathi Mohd / Mohamad Hassan / Muhamad Dzahir Kasa / Yahya Don

Giới thiệu

          Như những quốc gia đang phát triển khác, Malaysia đang đối mặt với một trạng thái thừa thãi các vấn đề xã hội, mà có kết quả từ sự lớn mạnh khác nhau và sự tiến bộ kinh tế. Một trong những điều này là thói nghiện ma túy- đã được nhận ra như là một vấn đề nghiêm trọng ở một tỷ lệ dịch bệnh. Như năm 2001, Malaysia đã ghi chép được tổng số 396,775 người nghiện ma túy ở quốc gia, với hơn 15,000 cá nhân được nhận biết như là những trường hợp mới của thói nghiện các chất tác động đến trí tuệ, hành vi mỗi năm. Tỷ lệ mắc phải quốc gia là 9 người nghiện ma túy trên 1000 dân trong một phạm vi giữa 22:1000 và 1:1000 cho các bang như Federal Teritory, Kuala Lumpur và Sarawak.

          Malaysia đã tiêu tốn tổng số 973.68 triệu RM cho chương trình ma túy trong khoảng từ năm 1996 tới năm 2000, và ngân sách mỗi năm tăng thêm đều đặn qua các năm. Ngân sách này được cấp cho chiến lược ma túy quốc gia, là cưỡng chế, phòng ngừa, phục hồi, cộng tác quốc tế và phát triển nguồn nhân lực. Phần quan trọng nhất của phần được cấp này( 67.8%) dành cho cưỡng chế, 29.3% cho điều trị và phục hồi, và 3.1% cho phòng ngừa (1996-2000 Budget). Phần được cấp này phân phối cho sự hoạt động của cơ sở điều trị và phục hồi ma túy và của chương trình chăm sóc sau điều trị Serenti. Hiện tại, có 27 trung tâm phục hồi Serenti trong cả nước, cung cấp dịch vụ phục hồi cho khoảng 12,000 người nghiện ma túy từ các hạng khác nhau sắp xếp từ người cứng đầu cho tới những người mới đến.

Điều trị và phục hồi ma túy ở Malaysia

          Khi một người nghiện các chất tác động đến trí tuệ, hành vi, thì cần thiết phải điều trị hoặc phục hồi với mục đích giảm bớt đòi hỏi chất bị cấm. ở Malaysia, điều này được thực hiện bằng cách dùng các phương thức khác nhau như các phương thức cai nghiện, dựa vào gia đình, dựa vào tín ngưỡng, dựa trên tinh thần và nhiều hơn nữa. Chính phủ đã cấp một phần quan trọng của các nguồn cho mục đích này. Như đã đề cập sớm hơn, Chương trình Serenti là một chương trình phục hồi ma túy của chính phủ trong nước. Đặc biệt, chương trình này sử dụng giải pháp tâm lý-xã hội cho phục hồi ma túy mà áp dụng sự kết hợp cai nghiện, phương pháp y học, vật lý, xã hội, tâm lý, tín ngưỡng, nghề nghiệp và cảm xúc.

          Có các cơ sở phục hồi khác mở rộng các dịch vụ của họ tới các cá nhân nghiện các chất tác động đến trí tuệ, hành vi. Khác với các trung tâm Serenti, Bộ nhà tù có một số lượng lớn những người nghiện ma túy mà cũng là những người tù đã trải qua chương trình phục hồi ma túy. Những cái khác bao gồm các bệnh viện cung cấp dịch vụ cai nghiện, các bệnh viện tư phi chính phủ và NGO's cung cấp sự thăm nom, lời khuyên, những trại nửa đường và các chương trình phục hồi đầy đủ tại nơi cư trú.

          Trang này tập trung vào một trung tâm điều trị và phục hồi ma túy phi chính phủ trong nước, đó là Trại Pengasih. Hiện tại, không có nhiều thông tin sẵn có về vật lý trị liệu, biện pháp, phương thức, các chương trình và thành công của các trung tâm phục hồi phi chính phủ này như đối với việc chúng được yêu cầu bởi luật pháp để đệ trình thông tin như thế tới một vài chính phủ hoặc cơ quan giám sát. Các nghiên cứu đã được chỉ đạo để xem xét một số trung tâm này, ví dụ như Mahmood, Md Shuaib và Ismail(1998), và chúng đã được báo cáo là không có sự duy trì đúng đắn các hồ sơ và các quy trình cho một cuộc thẩm tra hệ thống có mục tiêu. Cơ quan ma túy quốc gia (NDA) đã giữ thông tin ngoại vi về các trung tâm này, không có sự nỗ lực kết hợp nhiều hơn trong điều trị và phục hồi. Tuy nhiên, có những kết quả quan trọng đại diện cho AND để giành được những người tham gia tích cực từ NGO's này và các bệnh viện chuyên khoa tư nhân để được là một bộ phận không thể thiếu của cộng đồng điều trị và phục hồi ma túy.

Biện pháp Cộng đồng trị liệu để điều trị và phục hồi ma túy

          Nguồn gốc của điều trị lạm dụng các chất cho những kẻ phạm tội bằng cách này hay cách khác được công nhận để bắt đầu mở 2 bệnh viện Y tế công cộng U.S vào những năm 1940 (Leukefeld & Tims, 1992). Các cộng đồng trị liệu (TC's) là các chương trình điều trị ma túy tại nơi cư trú, nơi mà những người tù được ở trong những đơn vị riêng rẽ trong cơ sở. (Inciardi & Martin, 1993).

          Sự phát triển của biện pháp Cộng đồng trị liệu (TC) để điều trị cho những người nghiện ma túy vào những năm 1960 có ý nghĩa ảnh hưởng đến việc điều trị dựa vào nhà tù (Wexler & French, 1999). TC đầu triên được thành lập vào năm 1962 ở Nhà tù bang  Nevada. Biện pháp TC được biết đến như là biện pháp lý tưởng cho việc sửa chữa trừng phạt vì nó đã nhấn mạnh tầm quan trọng của toàn thể hội viên trong một cộng đồng, và học tập để trở thành có đạo đức và có trách nhiệm với xã hội (Graham & Wexler, 197). TC giúp nhận ra các hoạt động đúng và sai, nơi mà đúng được thưởng và sai bị trừng phạt. Tiêu chuẩn như là sự thật, tính trung thực, công việc hà khắc, trách nhiệm, tự tin, trách nhiệm liên quan đối với những người khác và bao hàm cả cộng đồng là bị bắt buộc (Knight & Simpson, 1997).

          Nói chung những người tham gia TC sống ở trong chương trình được khoảng 9 đến 12 tháng. Sau đó họ được thực hiện từng giai đoạn trong những môi trường sống độc lập trong cộng đồng với việc tiếp xúc vẫn tiếp tục với các nhân viên TC và những người chuyên nghiệp khác. TCs  đã cung cấp môi trường được cấu trúc cao, nơi mà những bệnh nhân tham gia vào tái xã hội hóa, điều trị sâu và cải biến cách cư xử và được làm tăng thêm những tính trách nhiệm khi họ tiến hành thông qua chương trình. TCs được thiết kế cho những cá nhân với các vấn đề ma túy trầm trọng và một số những lượng giá kết thúc làm chương trình này giảm bớt sự tái nghiện (Gertein & Harwood, 1990).

Sự lạm dụng chất thế hệ mới của TC bắt đầu như là một nhánh của những người nghiện rượu giấu tên (AA). Vào năm 1958 Charles Dederich đã tìm thấy Synanon ở California. Ông là một người nghiện rượu đã khỏi bệnh- người mà đã thoát khỏi AA bởi vì ông không thích sự tụ tập  rượu cứng nhắc của họ và sự từ chối của họ với những người lạm dụng chất mà là những người có thể nghèo hơn và là các thành viên của những nhóm thiểu số. Synanon đã trở thành một người đầu tiên của TC dựa trên khái niệm (Kennard,1983).

          Dựa trên khái niệm đã tượng trưng cho một xuất phát căn bản từ việc chăm sóc sức khỏe tâm thần truyền thống. Kiểu TC này được thiết kế để giúp cho những người lạm dụng chất, được phát triển bởi những người nghiện ma túy cũ là những người đã giúp chính họ tới con đường của sự khỏi bệnh hoàn toàn. Một số ví dụ hay nhất của TC dựa vào khái niệm là Synanon (Casriel,1963), Daytop (Sugarman, 1974) và Trại Phoenix (Rosenthal & Biase, 1972). Những người nghiện cũ tự giúp bản thân của TC đã được chấp nhận khắp nơi như là một biện pháp điều trị hợp pháp, có hiệu quả cho người nghiện ma túy và những vấn đề khác chống lại xã hội (Wexler,1995).

Cộng đồng TCs thường ở trong những Trại tư nhân rộng lớn mà chứa 15 đến 100 cư dân (trung bình là 40). Đầu tiên nhân viên giúp sửa đổi những người nghiện và một số lượng hạn chế những người chuyên nghiệp. Thời gian điển hình của sự lưu lại là 9 đến 18 tháng, mặc dù các tỷ lệ người bỏ học nửa chừng là cao. Vấn đề trung tâm của điều trị là cư dân bao gồm tất cả các mặt hoạt động của cơ sở, gồm trông nom, giữ gìn, chuẩn bị thức ăn (De Leon & Ziegenfuss, 1986). Để nâng cao ý thức tự tin với cộng đồng, cũng như chi phí thấp nhất, các công nhân ở ngoài hiếm được sử dụng (Wexler, 1995).

          Nghiện ma túy, được xem là một triệu chứng của sự non nớt, làm cho cá nhân không có khả năng kìm hoãn sự vừa lòng hoặc chịu đựng thất bại, gây khó khăn giữ gìn các mối quan hệ ổn định và làm mất dần tính trách nhiệm cho cuộc sống của người đó. TC dựa vào khái niệm cố gắng giải quyết những vấn đề này bằng cách đặt ra một vài mục tiêu điều trị cho những người tham gia. Trong số những mục tiêu này là: hoặc suy tàn hoặc kiêng lạm dụng chất, kết thúc thái độ phạm tội, có việc làm và/ hoặc tuyển vào trường học, sự điều chỉnh về xã hội thành công, ví dụ sự hình thành các mối quan hệ tích cực và ổn định (Wexler, 1995).

Có một cấu trúc có thứ bậc trong tổ chức của các TCs dựa vào khái niệm. Trên cùng của thứ bậc, một người lãnh đạo khiến nhân viên và các cư dân phải kính trọng. Với tư cách là những người nghiện ma túy cũ, những người lãnh đạo này là những người gương mẫu có vai trò quan trọng với tất cả những người tham gia. Khái niệm của người gương mẫu có vai trò đáng tín nhiệm là người đã chứng minh cho tính hiệu quả của việc điều trị bởi thành tựu của chính bản thân người đó, là thành phần chủ yếu của chương trình (Wexler, 1995: Wexler, Melnick, Lowe & Peter, 1999).

          Vai trò của tất cả nhân viên và cư dân được sắp xếp theo chiều thẳng có thứ bậc và có một chuỗi mệnh lệnh rõ ràng. Những cư dân mới được giúp đỡ thực hiện các khóa học với địa vị ở bậc thấp nhất, và chịu trách nhiệm cho hầu hết các công việc giữ gìn của người hầu như lau chùi các nhà vệ sinh. Khi các cư dân chứng minh cho những năng lực được tăng thêm và sự phát triển của cảm xúc, họ được chuyển lên thứ bậc, kiếm được những vị trí với địa vị được cải thiện và những đặc ân. Những thưởng công này đang tăng cường hết sức. Sự thành công trong TC đòi hỏi sự chi phối của quyền lực lành mạnh và phát triển một chiều hướng mới của những mong đợi được chuyển tới các vị trí của quyền lực (Wexler, Blackmore & Lipton, 1991; Wexler, 1995).    

          Cũng trong tất cả TCs khác, các hội nghị nhóm là trung tâm cho các hoạt động Trại và điều trị. Một ngày điển hình bắt đầu với một hội nghị buổi sáng bao trùm chương trình và các thông cáo cá nhân. Các lời chỉ trích cho hành vi sai ('lôi lên' và 'vẽ hình những người vi phạm'), và bài tập xây dựng tinh thần (ví dụ, các công việc hàng ngày vui nhộn và/ hoặc ca hát). Các hội nghị toàn thể thường kỳ được triệu tập bởi nhân viên để 'siết chặt' các hoạt động của Trại và đối chất các cư dân về các thói quen làm việc tùy tiện và các thái độ yếu kém (Wexler, 1995).        

          Các buổi điều trị chủ yếu là các nhóm gặp gỡ nhau, được tổ chức 2, hoặc 3 lần 1 tuần (Kennard, 1983; Wexler, 1995). Những nhóm này là những buổi đối chất sôi nổi đã đẩy mạnh việc làm mất hiệu lực những lời biện hộ và làm náo động các cư dân với những lời bình luận về 'người nghiện ma túy' của họ trong ý nghĩ và hành vi non nớt. Cuộc gặp gỡ cũng cung cấp các cơ hội để chia sẻ thông tin hữu ích về cách đạt được các thay đổi tích cực, được đòi hỏi để trở nên thành công trong TC. Các cư dân được mong đợi chứa đựng những phản ứng cảm xúc bình thường trong những tình cảnh hàng ngày cho đến buổi gặp gỡ tiếp theo (Wexler, 1995; Wexler, Blackmore & Lipton, 1991).

          Luôn luôn cung cấp các thách thức mới tạo ra những nỗ lực để truyền cảm hứng cho các cư dân tới các mức năng lực cao hơn. Ví dụ, nhân viên TC khá khéo léo trong sự cảm nhận khi một cư dân trở nên rất thoải mái trong một trách nhiệm công việc. Nhân viên thành viên sau đó tiếp tục tiến hành một sự thay đổi công việc, nhiều hơn tới sự học tập, để phát triển các mức độ thích hợp của sức chịu đựng, các con đường hiệu quả của sự thất bại trong tay và sự nỗ lực và các con đường thích hợp cho sự bày tỏ các cảm nghĩ của họ (Graham & Wexler, 1997). Trong suốt các cuộc gặp gỡ, các cư dân chia sẻ những cảm nghĩ và những chi tiết riêng tư trong cuộc sống của họ, điều đó giúp củng cố những mối quan hệ giữa các cư dân và nhân viên. Những mối quan hệ này rất quan trọng vì những cư dân phải chịu đựng quá trình vất vả của sự phục hồi thành công (Wexler, 1995).

Các hội nghị toàn thể thường kỳ được bổ sung với 'sự kiện kéo dài' đặc biệt đã kéo dài các nhóm ít nhất từ 24 đến 48 giờ. Thông thường được tổ chức thường kỳ, các hội nghị này được nhìn như với một hỗn hợp của nỗi kinh sợ, sự náo động và sự mong đợi đầy triển vọng. Nhiều người xem những hội nghị này như các sự kiện tinh thần trọng đại làm biến đổi cuộc sống của những người tham gia. Các cư dân và nhân viên đã gợi lại những kinh nghiệm xúc cảm trong sâu thẳm và trong suốt cảnh tượng dài sau khi hoàn thành 'sự kiện kéo dài' (De Leon, 1995; Wexler, 1995).
          Những kinh nghiệm xúc cảm xảy ra trong những cuộc gặp gỡ và những sự kiện kéo dài có khuynh hướng mở ra các xung đột sâu hơn và các vấn đề làm ngăn chặn sự trưởng thành. Những vấn đề sâu hơn này được chú trọng vào nhiều con đường khác nhau (Simpson, Rowan- Szal & Greener, 1997). Chỉ dẫn cá nhân cung cấp cho các thành viên những cơ hội để làm việc thông qua các vấn đề quan trọng này. Nhóm tiến bộ, được gọi là 'nhóm trợ lý', bao gồm các cư dân đã ở trong chương trình dài hơn và các thành viên nhân viên sắc sảo lạnh lùng hơn (Wexler, Falkin & Lipton, 1990; Wexler, 1995).

          Các hội thảo giáo dục là một phần chính của chương trình TC. Những nhóm này được tổ chức vài lần một tuần và được dùng để phổ biến tin tức về những sự kiện hiện hành và lựa chọn các chủ đề. Chủ đề sắp xếp từ các ý kiến triết học đến ý nghĩa của những khái niệm tâm lý. Các hội nghị nhóm khác bao gồm các nhóm định hướng cho những thành viên mới và các nhóm chuẩn bị cho các cư dân cũ tái tiếp nhận vào xã hội( Wexler, 1995).

Có một vài điều kiện cơ bản cho những kết quả thành công trong TC dựa vào khái niệm. Điều kiện đầu tiên là việc chấp nhận khái niệm 'thực hiện như thế', mà nó đòi hỏi rằng những cư dân mới hoãn xét xử và tạo niềm tin rằng họ chấp nhận các giá trị TC cơ bản và các quy tắc của việc quản lý.  Cư dân tiếp tục 'thực hiện như thế' cho tới khi các giá trị cộng đồng rõ ràng và các thái độ trở nên tiếp thu. Sự trưởng thành bộc lộ khi các vai trò đặc trưng và trách nhiệm được cam kết (Wexler, 1995). Đặc điểm thứ bậc của TC làm cho công việc dễ dàng thông qua các vấn đề quyền lực, điều mà chuẩn bị cho các cư dân chấp nhận quyền lực thích đáng và đảm đương vai trò đáng tin cậy trong xã hội. Không khí náo nhiệt TC cung cấp một sự pha trộn giữa đối đầu và trợ giúp mà cho phép những cư dân phải trải qua những sự thay đổi gian khổ cần thiết cho sự phục hồi thành công. Mở cuộc thảo luận và chia sẻ các kinh nghiệm riêng tư giúp phát triển kỹ năng cần thiết cho các mối quan hệ tích cực và ổn định. Cuối cùng, nhiều nỗ lực đã tạo kết nối các cư dân với cộng đồng bên ngoài trong suốt giai đoạn sau cùng của việc điều trị. Nhiều mối quan hệ được hình thành với những người ngang hàng trong TC mở rộng ra cộng đồng và cung cấp sự trợ giúp tiếp tục khi hoàn thành chương trình ( De Leon, 1995; Wexler, 1995; Mullen, Arbiter &Glider, 1991).

PENGASIH và Cộng đồng trị liệu

          Pengasih là một tổ chức giúp đỡ bản thân, được đăng ký như là một hội liên hiệp ở Malaysia từ ngày 25 tháng 9 năm 1991. Nó là tổ chức duy nhất ở đất nước, mà thành viên của nó bao gồm những người đã khỏi bệnh và những người nghiện ma túy cũ từ 18 tuổi trở lên. Pengasih đang được quản lý độc quyền bởi những người nghiện ma túy đã khỏi bệnh từ những ngày đầu thành lập. Trong vòng 21 năm tồn tại, Pengasih đã đóng một vai trò chủ chốt trong cung cấp điều trị và phục hồi ma túy luân phiên cho những người sử dụng, dùng sai hoặc lạm dụng ma túy thông qua số lượng lớn chương trình phòng ngừa sáng tạo và phục hồi.

          Như đã được đề cập trước đó, chương trình điều trị và phục hồi ma túy chính đang được cung cấp bởi Chính phủ Malaysia, dưới sự kiểm soát và giám sát của Cơ quan ma túy quốc gia. Từ đầu những năm 1980, đầy đủ các trung tâm điều trị và phục hồi ma túy tại nơi cư trú Serenti được thành lập để cung cấp một sự phục hồi về tinh thần toàn diện, về sức khỏe, vật chất, tâm hồn và về nghề nghiệp (ADK, 2001). Bên cạnh đó, các trung tâm phục hồi này, việc điều trị và phục hồi ma túy giống nhau  chỉ đạo trong các bệnh viện của chính phủ và các bệnh viện tư (các cơ sở cai nghiện), các nhà tù (cho những tội phạm và những người tù nghiện ma túy khác), các bệnh viện tư (cai nghiện và các cơ sở y học) và các trung tâm phục hồi phi chính phủ mà được yêu cầu đăng ký với NDA cho mục đích giám sát và tài trợ.

          Tuy nhiên, với tất cả những cơ sở này đưa ra đồng thời, vẫn có vô số những người nghiện ma túy được phục hồi và điều trị ở quốc gia. PENGASIH, vì thế đóng một vai trò quan trọng trong mối liên quan đến vấn đề ma túy hiện tại ở quốc gia. Vì vậy, thật cấp bách đối với Pengasih để cung cấp một chương trình phục hồi có hiệu quả nhất cho các cư dân của họ.

          Từ khi thành lập vào năm 1999, PENGASIH có khoảng 300 thành viên trên toàn quốc, với một vài trung tâm Sa sút trong một số bang. Pengasih đã quản lý để mở rộng các dịch vụ của nó với sự hoạt động của Trại PENGASIH từ tháng 2 năm 1993, cũng là trung tâm hoạt động hiện tại của tổ chức.

          Với sự thành lập của Trại PENGASIH, họ đã khởi xướng người ngang hàng trợ giúp phương thức điều trị, và chẳng bao lâu sau đó, họ quản lý điều khiển 50 đến 70 cư dân trong Trại. Hiện tại, Pengasih đang quản lý khoảng 100 cư dân ghi tên vào các biện pháp điều trị khác nhau.

          PENGASIH hoạt động cái tổ chức của nó dựa trên tập hợp các mục tiêu sau đây. Gồm có:

1.     Cung cấp sự phục hồi cho cá nhân nghiện ma túy với sự tập trung đặc biệt vào việc xây dựng lại cuộc sống cho người đó.

2.     Trở thành những người bạn để sửa đổi và những người nghiện ma túy cũ từ tất cả con đường của cuộc sống;

3.     Cung cấp hướng dẫn để cải tạo những người nghiện ma túy để giúp họ sống một cuộc sống độc lập, thoải mái và đầy đủ;

4.     Đặt kế hoạch và thi hành những hoạt động mà sẽ giúp vượt qua thói nghiện và đảm bảo cải tạo những người nghiện ma túy để họ có một cuộc sống bình thường;

5.     Giúp đỡ chính phủ Malaysia trong việc phòng ngừa, điều trị và phục hồi cho những người sử dụng ma túy và góp phần vào sự thành công của các chương trình chống ma túy quốc gia;

6.     Tăng thêm số lượng những người nghiện ma túy đang cải tạo và lợi dụng thuyết động lực của những người nghiện ma túy đang cải tạo- những người đã đạt được thành công trong tổng số khỏi bệnh để giúp cải tạo những người nghiện ma túy khác duy trì cuộc sống không ma túy để giảm đến mức tối thiểu tác động của vấn đề xã hội do sự dùng ma túy.

PENGASIH sử dụng phương thức điều trị TC khá giống với nhiều các tổ chức phi chính phủ ở US, châu âu và các nước chấu á khác. Tuy nhiên, đồng ý với các mục tiêu thành lập của họ, PENGASIH đã nhận ra tầm nhìn của họ, đó là:

1.     Được mọi người công nhận là một tổ chức chuyên nghiệp trong việc phòng ngừa sử dụng ma túy, điều trị và phục hồi thói nghiện ma túy tại quốc gia và mức độ quốc tế.

2.     Có sự liên hợp- được trang bị tốt để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức; và

3.     Trở thành một điểm tham khảo trong việc phòng ngừa, điều trị và phục hồi thói nghiện ma túy.

Để đạt được những tầm nhìn này và tiến hành các mục tiêu của các tổ chức này, PENGASIH có các công việc ngoài các chiến lược hướng tới đạt được chúng. Trong số những công việc đang được thi hành như sau:

1.     Nhận biết những người nghiện ma túy cũ là những người đã đạt được trong tổng số khỏi bệnh để làm việc cùng nhau thi hành tập hợp chương trình để giảm bớt vấn đề ma túy quốc gia.

2.     Đưa ra các dịch vụ khám sức khỏe tới những người sử dụng ma túy, những người nghiện, và những người nghiện ma túy cũ; và

3.     Hành động như một người bênh vực cho những người sử dụng ma túy, những người nghiện, và những người nghiện ma túy cũ trong các hội nghị có liên quan đến điều trị, phục hồi, phòng ngừa và khám sức khỏe.

Với những chiến lược này, PENGASIH đã thành lập một vài chương trình có liên quan để đạt được các mục tiêu. Những chương trình này là:

1.     Trại PENGASIH - Đây là chương trình điều trị chủ yếu và phục hồi được bắt nguồn trong phương thức Cộng đồng trị liệu (TC).

2.     Dự án Bakti Kasih- Đây là một chương trình cung cấp sự giúp đỡ và chăm sóc cho những người sử dụng ma túy tiêm tĩnh mạch (IVDU's) nhiễm HIV rõ ràng và AIDS.

3.     Chương trình Sinar Kasih- Đây là một sự tiếp tục của chương trình phục hồi TC, cung cấp các chiến lược hòa nhập với xã hội (chương trình tái tiếp nhận).

4.     Chương trình Seruan Kasih- Về cơ bản, đây là một chương trình vượt xa hơn, được chỉ đạo bởi PENGASIH để đưa ra các dịch vụ phục hồi cho những người nghiện ma túy và những người sử dụng ma túy.

5.     Chương trình Sidang Kasih- Đây là một nhóm trợ giúp, được quản lý dành cho cho những cư dân, những cư dân cũ của Trại PENGASIH và những người khác thích gia nhập nhóm trợ giúp.

6.     Chương trình Muara Kasih-  Chương trình này cung cấp Trại nửa đường cho sự nghỉ ngơi và giải trí của những người nghiện ma túy nhiễm HIV rõ ràng hoặc AIDS.

7.     Chương trình Lautan Kasih -Đây là một chương trình quốc tế giữa PENGASIH và nhiều phía đối lập của nó khắp thế giới.

Thêm vào những chương trình này, PENGASIH cũng đã thành lập trung tâm Ma túy và HIV/AIDS, về cơ bản như là một trung tâm Sa sút và trung tâm Chăm sóc hàng ngày ở bang Johor. Trung tâm này cung cấp các dịch vụ cho người nghiện ma túy ở khu vực phía Nam của đất nước.

Trại PENGASIH

          Noi gương theo một vài trại và chương trình TC như Trại Phoenix và Daytop ở Mỹ, sự thành lập Trại Pengasih hoạt động trên triết lý "Chúa sẽ không thay đổi con người quá lâu nếu họ không có ý chí để thay đổi chính họ". Trại sử dụng biện pháp tự giúp bản thân đang giúp những người khác để giúp chính ai đó (Liệu pháp người giúp đỡ). Nhiệm vụ của Trại Pengasih là giúp những người nghiện ma túy sửa đổi để sống một cuộc sống không ma túy, để làm cho họ tiếp tục hi vọng khỏi bệnh và truyền hy vọng và khỏi bệnh tới tất cả những người nghiện ma túy trong đất nước.Mục đích của Trại là giúp đỡ và giúp cải tạo những người nghiện ma túy thoát khỏi ma tuý và mang lại sự trợ giúp cho người nghiện ma túy để họ khỏi bệnh từ thói nghiện của họ; và ngăn ngừa giới trẻ khỏi sự đòi hỏi ma túy. Như vậy, tầm nhìn của Trại Pengasih là phải biến đổi những người nghiện ma túy thành những người bắt phải dạy cho họ nghĩa vụ về trách nhiệm và sản xuất tới bản thân họ, gia đình và đất nước.

          Trại Pengasih dùng phương thức cộng đồng trị liệu (TC). Cộng đồng trị liệu lần đầu tiên được giới thiệu ở Malaysia vào đầu những năm 70 khi James Wielhelm Schoelar, một y tá nam người Đức làm việc với một nhóm người nghiện ma túy tại Bệnh viện Tun Fatimah ở Ipoh. Vào năm 1974, Schoelar đã gửi 7 người nghiện ma túy cũ đã khỏi bệnh khỏi thói nghiện bằng cách sử dụng phương pháp điều trị của ông tới Philipin để theo chương trình TC ở đó. Sau đó, 5 người đào tạo đã được thuyết phục tới Malaysia để đào tạo những người nghiện ma túy cũ ở đây bằng kỹ thuật của TC.

          Phương thức cộng đồng trị liệu xem thói nghiện ma túy như là sự biểu lộ một số vấn đề giấu kín, đó là tâm lý, cảm xúc hoặc cách cư xử. Bởi vậy, những mục tiêu của TC là phải điều trị cho những người nghiện ma túy về sự lệ thuộc ma túy của họ; phải giới thiệu những giá trị, thái độ và cách cư xử trong quá trình cấu trúc lại nhân cách của họ; phải giúp những người nghiện ma túy duy trì một lối sống lành mạnh; và phải giúp những người nghiện sửa đổi tái hòa nhập vào xã hội như những cá nhân tốt, bình thường, biết lao động.

          Những mục tiêu này cũng được sử dụng như là những mục tiêu của Trại Pengasih trong nỗ lực đảm bảo tổng số khỏi bệnh trong số những người nghiện ma túy đang trong chương trình phục hồi. Những mục tiêu này được chuyển thành những hoạt động điều trị đặc biệt như sau: Buổi họp trước sáng, buổi họp sáng; Lời khuyên và chỉ dẫn (Phần thảo luận và xác định); những hội thảo; Cắt tóc và phần hoạt động phụ bổ sung, các nhiệm vụ công việc; Những hội nghị nhóm, Nhóm tĩnh; Nhóm chia sẻ/ thăm dò; Sự đương đầu với người ngang hàng; Nhóm hội thảo trường kỳ, Hàng ngày và Hàng tuần; Ràng buộc; và các hoạt động tôn giáo.

 Các buổi họp trước sáng (PMM)

          Mục đích của PMM là phải thảo luận thông tin phản hồi từ các thành viên- những người có một số lo lắng cần giải quyết; phải đồng nhất hóa, thảo luận và giải quyết các vấn đề gặp phải hàng ngày; và phải loại trừ các vấn đề không cần thiết và phải phân tích chúng theo các sự ưu tiên và quan trọng.

 Buổi họp sáng

          Sau PMM là buổi họp sáng, được chỉ đạo để cung cấp các cơ hội tới mỗi cư dân để họ bày tỏ lo lắng của họ; để làm cho họ cảm thấy rằng họ được cần và họ là một phần của cộng đồng; để làm cho hiệu lực và thúc đẩy chính họ cho ngày đó và để giúp đỡ những cư dân mới vào những cơ sở và môi trường; để làm cho triết lý của cuộc sống của họ có hiệu lực, hoặc viết ra hoặc cách khác; và để cung cấp những yêu cầu nào đó tới cách mà mỗi cá nhân đánh giá chính họ cũng để đòi hỏi tính trung thực và thật thà của họ; và để giúp các cư dân ngang hàng nhìn vào chính họ để đẩy mạnh kỷ luật bản thân.

 Phần thảo luận và xác định (STDW)

          STDW là những hội nghị tập trung vào đồng nhất hóa, khuyên giải và phê bình những thái độ tiêu cực giữa các cư dân. Trong số họ, STDW có ý định nhắc nhở và cung cấp sự nhận thức về tầm quan trọng của thái độ tích cực giữa các cư dân; dạy dỗ các cư dân biết các giới hạn của họ, đón lấy và chấp nhận lời phê bình, khuyên bảo từ những người khác với một ý kiến mở hướng tới sự thay đổi thái độ; dạy dỗ các cư dân tính trung thực, chịu trách nhiệm và có thể khuyên bảo và phê bình thái độ tiêu cực của những cư dân bạn; tăng sự nhận thức của người đó và sẵn sàng chịu trách nhiệm đối với chính mình và những người khác.

Những hội thảo

          Hội thảo là một công cụ giao tiếp quan trọng giữa các cư dân, mà được định rõ trong phạm vi vấn đề này như là một người chỉ huy, hoặc một người sẽ giới thiệu một số vấn đề với người nghe. Trong buổi hội thảo, một chủ đề sẽ được nhận biết bởi các cư dân lâu năm hơn hoặc thậm chí bởi nhân viên lâm sàng của Trại. Mục đích của các hội thảo như sau:

          a. Cung cấp một diễn đàn cho các cư dân để cải thiện các khả năng về trí óc và tinh thần của họ;

          b. Cung cấp một con đường cho các cư dân để đối diện hoặc vượt qua sự sợ hãi (đòi hỏi sự sợ hãi) để xây nên sự tin tưởng bản thân để thực hiện việc nói trước công chúng;

          c. Dạy dỗ các cư dân có sự can đảm để đưa ra các quan điểm và có thể tôn trọng ý kiến của những người khác; và

          d. Thúc đẩy sự phát triển trí tuệ và nhận thức giữa các cư dân của Trại Pengasih.

Cắt tóc và phần hoạt động phụ bổ sung (HCSP)

          HCSP là các hội nghị thú vị và theo sát các hội nghị để tập hợp một số kinh nghiệm hiểu biết dành cho những người không tuân theo các quy định chính của Trại. Hội nghị này cũng áp dụng với những cư dân khác mà đã nhiều lần lặp lại phạm những lỗi lầm giống nhau. Tất nhiên, có những mục đích nào đó cho những hoạt động này, là phải làm cho người đó nhận thức rõ  lỗi lầm của người đó; giúp các cư dân chịu trách nhiệm với lỗi lầm họ đã phạm phải; và dạy dỗ các cư dân đối mặt và giải quyết các vấn đề riêng của họ.

Các nhiệm vụ công việc

          Có những nhiệm vụ công việc nào đó phải được cam kết bởi các cư dân gia nhập Trại Pengasih. Các nhiệm vụ này được cung cấp tới các cư dân để hoàn hành 3 yêu cầu chính như sau:

          a. Cần xác định thái độ công việc nguy cấp và cưỡng chế như đúng giờ, sự tận tâm, có thể theo các nội quy công việc và lời ra lệnh, có trách nhiệm và tự hào về công việc mà họ làm;

          b. Tặng phần thưởng cho họ vì tính trách nhiệm của họ với môi trường và công việc họ làm, để cung cấp ý thức cần thiết giữa các cư dân. Các công việc đã phân công sẽ là một phần trách nhiệm của cư dân mà họ sẽ làm không có nhiều sự chỉ dẫn từ nhân viên; và

          c. Cung cấp các cơ hội cho cư dân học nhiều công việc có liên quan đến các kỹ năng, hơn nữa truyền thụ cho họ các giá trị và đạo lý công việc tốt đẹp.

          ở Trại Pengasih, một vài khái niệm cơ bản được phối hợp để tạo thành các nhiệm vụ công việc. Về cơ bản, các cư dân thực hiện các công việc giữa chính họ, dưới sự giám sát của một người lãnh đạo được chọn trong số họ theo một hệ thống cấp bậc. Công việc được giao cho họ không những yêu cầu được hoàn thành mà điều quan trọng hơn là làm cho các cư dân nhận ra là họ có thể học được cái gì từ chính công việc. Hơn thế nữa, các cư dân được nghĩ là có trách nhiệm với công việc, thì đó là một sự chỉ điểm trong nhiệm vụ của họ trong thế giới thực.

Những hội nghị nhóm

          Có một vài nhóm đã chỉ đạo tại Trại Pengasih, tất cả được thực hiện với một nhiệm vụ là giúp các cư dân đối mặt và kết thúc các nhật ký xúc cảm và tâm lý của họ trong việc phục hồi. Những nhóm sẵn có là Nhóm tĩnh, nhóm gặp gỡ, nhóm đối đầu với những người ngang hàng và nhóm trường kỳ.

          a.Nhóm tĩnh

          Đây là nhóm thành viên cố định, do những cư dân được giao cho những cố vấn của họ. Nhóm cố vấn sẽ tập trung về các khía cạnh nào đó của sự phát triển của các cư dân như tính nết, thái độ xây dựng, các đề án cuộc sống và sự phát triển nhân cách. Các cư dân được đòi hỏi đưa ra lời cam kết đầy đủ cho thảo luận nhóm và các quá trình tiến hành. Nhóm tĩnh được xem như là một nơi an toàn cho các thành viên của nhóm để mà lộ chân tướng của chính họ để thăm dò các cảm nghĩ của họ, các địa vị và các khía cạnh khác mà không có sự kinh sợ bị chỉ trích, bị nhìn xuống hoặc bị khiển trách. Từ khi tất cả cuộc thảo luận vẫn giữ lại điều bí mật đối với các thành viên của nó, điều này cung cấp các cơ hội rất tốt cho việc thăm dò bản thân. Vì vậy các cư dân đã theo nhóm này tìm ra được sự tái sinh, là một kết quả trực tiếp của nhóm và sự thăm dò bản thân, sự chia sẻ các kinh nghiệm, các cảm nghĩ, lo sợ, điểm mạnh, điểm yếu và hy vọng của họ về tương lai. Kinh nghiệm như thế sẽ mở các cánh cửa mới cho các cư dân để thay đổi cách sống của họ cho tốt hơn. 

         b. Nhóm thăm dò/ chia sẻ

          Nhóm trợ giúp này là một quá trình có thể giúp các cư dân chia sẻ các kinh nghiệm, hy vọng, những cảm nghĩ về hạnh phúc, buồn bã, các vấn đề và kết quả của tình yêu và riêng tư. Đây là một nhóm có thể giúp các cư dân tự thúc đẩy chính họ và tập hợp sức mạnh từ những người ngang hàng của họ ở trong cùng một chương trình. 3 yếu tố quan trọng được nhấn mạnh trong nhóm này là tính trung thực, cởi mở, quyết tâm. Các cư dân được khuyến khích tham gia vào thảo luận nhóm. Trong số những quy định của nhóm này là các cư dân được yêu cầu nhìn vào mắt của những cư dân đang chia sẻ kinh nghiệm của họ ở trong nhóm; để đem đến sự tập trung cao nhất của họ cho thảo luận nhóm và giữ vững tất cả cuộc thảo luận chỉ ở trong nhóm, mà không có cái nào được thảo luận vượt xa hơn các ranh giới của nhóm. Các nhóm này có những giá trị điều trị nào đó hướng tới thay đổi những cách cư xử , xúc cảm và các kiểu sống đặc biệt của những cư dân.

          c. Sự đương đầu với người ngang hàng (PC)

          Đây là một quá trình đương đầu giữa các cư dân được quản lý trong một tập hợp nhóm. Mục đích của PC là phải nhận biết rõ các thái độ nào đó để hướng tới thay đổi, đối đầu với nó và cải thiện nó. Nhóm này có thể giúp các cư dân thấm nhuần những trách nhiệm và trách nhiệm hướng tới chính bản thân họ và tới những người khác. Nó cũng tập trung truyền thụ nhu cầu cải thiện các cách sống. Nhóm này cũng giúp các cư dân nhận rõ điểm mạnh và điểm yếu của họ và lợi dụng nó hướng tới hạnh phúc riêng của họ.

          d. Nhóm trường kỳ (MG)

          Tương tự như các nhóm đã đề cập trước, Nhóm trường kỳ bao gồm các thành viên được lựa chọn để thực hiện các vấn đề của họ và giới hạn trong một tập hợp nhóm. Nét đặc trưng của MG dó là nó sẽ ở trong hội nghị từ 48 đến 72 giờ. Nhiệm vụ chính của nhóm là phải cung cấp một sự thăm dò chính bản thân tận sâu thẳm, sự thẩm tra bản thân và sự tự xem xét nội tâm để cho phép các cư dân thực sự hiểu chính họ và các thành viên nhóm bạn của họ.

Hàng ngày và hàng tuần bị bao bọc

          Đây là một hội nghị khác mà tất cả cư dân sẽ tham dự vào cuối mỗi ngày, đặc biệt là vào ban đêm, và cuối tuần. Mục đích của hội nghị này là phải tổng kết những gì các cư dân đã thu thập về chính họ từ chính bản thân họ và từ việc thăm dò nhóm suốt ban ngày và tuần. Mỗi hàng ngày và hàng tuần bị bao bọc sẽ được quản lý bởi một người ngang hàng được chọn trong số các cư dân. Trong số những mục tiêu của các hội nghị này là:

          a. Dạy dỗ những cư dân để lượng giá chính họ mỗi ngày hoặc tuần để nhận rõ những điều tốt và thậm chí những nhược điểm đã làm với ngày đó hoặc tuần đó, để chuẩn bị cho ngày sau hoặc tuần sau;

          b. Cung cấp một cơ hội cho các cư dân để thực sự biết ý nghĩa của các buổi gặp gỡ hàng ngày/ tuần và các kinh nghiệm của họ; và

          c. Dạy dỗ các cư dân có thể coi trọng chính họ và những người khác.

Các hoạt động tôn giáo

          Các hoạt động tôn giáo là cưỡng chế đối với tất cả các cư dân theo các tín ngưỡng riêng của họ. Tất cả các cư dân Hồi giáo được yêu cầu thực hiện các lời cầu nguyện ép buộc của họ nhiều lần 1 ngày và theo tất cả các hoạt động tôn giáo đã được đặt trước. Tất cả các cư dân khác sẽ theo các hoạt động tôn giáo của riêng họ.

Lượng giá chương trình

          Trong đầu năm 2002, Pengasih Malaysia đã ủy nhiệm một nghiên cứu để lượng giá tính hiệu quả của chương trình ma túy của nó. Tuy nhiên, nhờ sự lượng giá tất cả chương trình được chỉ đạo bởi Pengasih Malaysia, nó được quyết định rằng sự tập trung sẽ được hướng vào Trại Pengasih vì tính giá trị của dữ liệu. Tổng số 45 người trả lời được chọn từ 657 những cư dân cũ (từ 1997 đến 2001). Tất cả những người trả lời được phỏng vấn bởi 2 nhà nghiên cứu ma túy đã có kinh nghiệm. Thông tin liên quan đến sơ lược tiểu sử bản thân, sử dụng ma túy trước đây và kinh nghiệm và sơ lược tiểu sử tâm lý của họ được tìm hiểu rõ ràng.

          Những đo lường về coi trọng bản thân và sơ lược tiểu sử cá nhân tạo nên sơ lược tiểu sử tâm lý của những người trả lời. Những thông tin này được thu thập bằng việc sử dụng Thang coi trọng bản thân của CoopersmithBài kiểm tra các nhân tố con người của Cattell. Những dữ liện này được so sánh với các dữ liệu được thu thập trước đây từ dân số nghiện ma túy. Một bộ dữ liệu là từ một nghiên cứu tiến sỹ đã chỉ đạo vào năm 1995, và một cái khác là từ một luận văn thạc sỹ vào năm 2000.

Coi trọng bản thân

Bảng 1 cho thấy rằng những điểm coi trọng bản thân đã thu thập từ các cư dân cũ là cao hơn khi so sánh với số dân nghiện ma túy. Thang Coopersmith đo lường sự coi trọng bản thân chung và coi trọng bản thân có liên quan tới bản thân của riêng họ, tới gia đình của họ, những người cùng địa vị xã hội và môi trường làm việc.

Bảng 1: Sự coi trọng bản thân của những cư dân cũ và những người nghiện ma túy

 

Đo lường

Những cư dân cũ

Những người nghiện ma túy

Coi trọng bản thân (Tổng số)

Coi trọng bản thân ( Bản thân)

Coi trọng bản thân ( Gia đình)

Coi trọng bản thân (Người cùng địa vị xã hội)

Coi trọng bản thân (Công việc)

2.9

3.3

2.1

1.9

2.1

2.5

2.9

1.8

1.5

1.6

Tiểu sử về tính cách của cá nhân:

Bản tiểu sử về tính cách của cá nhân là một bản mô tả trạng thái tâm lý của một người, nó mang tính tạm thời. Cattell có đề xuất rằng việc hình thành tính cách là một quá trình liên tục thì nó vẫn có những thay đổi theo thời gian cùng với các tác động. Ví dụ, một phụ nữ thường xuyên làm việc với các nam giới thì có xu hướng thay đổi theo tính cách của nam giới. Cũng vậy, một người nghiện ma tuý được điều trị thì cũng đạt được những thay đổi tích cực trong quá trình phục hồi. Bảng 2 cho thấy những thay đổi này. Nói chung, những cư dân cũ tại Trại Pengasih và những người nghiện ma tuý đều có những tính cách chung (Minh hoạ 1), song thực tế có những khác biệt cho thấy những tiến bộ đã đạt được trong bản tiểu sử của người được điều trị (Bảng 3)

Bảng 2: Những điểm cho 16 PF giữa những cư dân cũ và những người nghiện ma túy

STT

Các nhân tố

 

Các đặc điểm

Những cư dân cũ (n=48)

Những người nghiện ma túy (n=150)

1

A

B

C

 

E

F

 

G

H

I

L

M

N

O

Q1

Q2

Q3

Q4

Kín đáo, tách biệt- Bộc lộ, thoải mái

ý nghĩ cụ thể- ý nghĩ trừu tượng

Bị ảnh hưởng bởi cảm xúc- ổn định xúc  cảm

Phụ thuộc- Độc lập

Nghiêm nghị, khiêm tốn- Hạnh phúc, vui       vẻ,  may mắn

Trục lợi- Kiên trì

Nhút nhát- Chủ động

Thích giao thiệp- ít giao thiệp

Đáng tin cậy-Khả nghi

Thực tế- Giàu tưởng tượng

Thẳng thắn- Khôn ngoan

Tự tin- Sợ hãi

Bảo thủ- Kinh nghiệm

ỷ lại- Có khả năng

Cẩu thả- Kỷ luật

Dễ chịu- Căng thẳng

6.06

6.81

3.75

 

4.89

5.54

 

5.02

5.25

6.39

6.35

4.68

3.75

7.75

4.77

5.77

6.87

6.81

6.21

5.98

3.12

 

4.48

5.04

 

5.32

4.79

6.52

6.58

5.62

4.91

8.00

4.98

6.25

6.34

5.99

 

Bảng 3: Một số sự khác nhau về nhân tố con người giữa những cư dân cũ và những người nghiện ma túy

Nhân tố B

Những cư dân cũ tỏ ra thông minh hơn và có suy nghĩ trừu tượng hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố C

Những cư dân cũ tỏ ra ít bất ổn về xúc cảm hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố E

Những cư dân cũ tỏ ra thái độ phụ thuộc ít hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố I

Những cư dân cũ tỏ ra ít ỷ lại và nhạy cảm hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố L

Những cư dân cũ biểu lộ ít nét khả nghi hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố M

Những cư dân cũ tỏ ra thực tế hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố N

Những cư dân cũ tỏ ra thẳng thắn và cử chỉ tự nhiên hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố O

Những cư dân cũ tỏ ra hơi sợ hãi ít hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Nhân tố Q3

Những cư dân cũ tỏ ra có kỷ luật và kiểm soát bản thân nhiều hơn so với nhóm người nghiện ma tuý.

Kết luận

          Trong phần kết luận, nghiên cứu đã tìm thấy rằng trong việc so sánh với dân số nghiện thì có những cải thiện tính cách của những cư dân đã trải qua chương trình TC Pengasih. Các nghiên cứu xa hơn đang được chỉ đạo cho một phân tích về sự thay đổi nhiều hơn, đặc biệt qua thời gian.

Tham khảo

Agensi Dadah Kebangsaan (2001). Kuala Lumpur: ADK.

Casriel, D. (1963). So Fair A House: The Story of Synanon. New York; Prentice Hall.

DeLeon, G. & Ziegenfuss, Jr. J (1986). Therapeutic Communities for Addictions. Springfield, IL: Charles C. Thomas.

DeLeon, G. (1995). Therapeutic Communities for Addictions : A Theoratical .....work. International Journal of the Addictions, 30: 1603-1645.

Graham, W. & Wexler, H. (1997). The Amity therapeutic communities programs. Description and approach. In Deleon, G. (Ed.). Community as a ....Modified Therapeutic Communities for Special Populations and .....Settings. Springfield, Il: Greenwood Press.

Gerstein, D.R., & Harwood, H.J. (1990). Treating Drug Problems: Vol I: A....of the Systems. Institute of Medicine, Committee for the Substance Abuse Coverage Study and National Institute on Drug Abuse, Washington ....National Academy Press.

Kennard, D. (1983). An Introduction to Therapeutic Communities......Routledge and Kegan Paul

Knight, K. & Simpson, D.D. (1997). Prison based Therapeutic Treatment, The Texas Model. Paper presented at The Annual Conference of the American Society of Criminology, San Diego.

Leukefeld, C.G. & Tims, F.M. (1992). Drug Abuse Treatment in Prisons....Jail. NIDA Research Monograph (118), Washington., DC: National Institute of Drug Abuse.

Mahmood.N.M., Md Shuaib Che Din & Ismail Ishak (1998). Drug Rehabilition ...in Traditional Setting: The Case of Inabah. Unpublished Research Report UUM, Sintok.

Mullen, R. Arbiter, A. & Glider, P. (1991). A comprehensive therapeutc communities approach for chronic substance abusing juvenile offenders: The Amity Model. In Armstrong, T.C. (Ed) Intensive Interventions with High- Risk Youth Promising Approach in Juvenile Probation and Parole. New York: Criminal Justice Press.

Rosenthal, M.S. & Biase, D.V. (1972). Phoenix Houses: Therapeutic Communities for drug addicts. In Kaplan, H.I. & Sadock, B. (Ed) Group and Drugs, New York: Aronson.

Sugarman, B. (1974). Daytop Village: A Therapeutic Community. New York: Holt, Rinehart, Winston.

Simpson, D.D., Joe, G.W., Rowan-Szal, G.A., & Greener, J. (1997). Drug abuse treatment process components that improve retention. Journal of Substance Abuse Treatment, 14 (6), 565-572.

Wexler, H.K., Falkin, G.P., & Lipton, D.S. (1990). Outcome evaluation of a prison therapeutic communities for substance abuse treatment. Journal Criminal Justice & Behavior, 17 (1): 71-92.

Wexler, H.K., Blackmore, J. & Lipton, D.S (1991). Project REFORM: Developing a drug abuse treatment strategy for corrections. Journal of Drug Issues, 21 (2): 473-495.

Wexler, H.K. (1995). The success of therapeutic communities for substance abusers in American prison. Journal of Psychoactive Drugs, 27 (1): 57-66.

Wexler, H.K., Melnick, G., Lowe, L. & Peters, J. (1999). 3 Year reincarceration outcomes for Amity in prison therapeutic community and aftercare in California. The Prison Journal, 79 (3): 321-336.

Winett, D., Lowe, L., Mullen, R. & Missakian, E. (1992). Amity Right Turn: A demonstration drug abuse treatment program for inmates & parolees. In Leukefeld, C.G. & Tims, F.M. (Ed). Drug Abuse Treatment in Prisons and Jails. Washington, DC: US Government Printing Office.

Các kết quả điều trị lệ thuộc ma túy bởi cộng đồng trị liệu (TC) cho những người Thái Lan ở Bệnh viện Thanyarak

 

Viroj Verachi, M.D.

Jaroonporn Punjawatnun

Bệnh viện Thanyarak

Dr. Fernando Pergfar

Liên quốc tế Daytop .

         ở Thái Lan, nghiện ma túy được xem như là một vấn đề sức khỏe, vấn đề phạm tội, vấn đề xã hội và vấn đề an ninh quốc gia nghiêm trọng. Bệnh viện Thanyarak, trực thuộc  Cục dịch vụ Y tế của Bộ y tế công cộng của Thái Lan, được thành lập vào năm 19593 đáp ứng như là một trung tâm điều trị quốc gia cho những người nghiện ma túy. Việc điều trị thói nghiện ở Thanyarak có 4 giai đoạn tiêu chuẩn: nhận vào trước, cai nghiện, phục hồi và theo sát riêng từng người. Trong nhiều năm, kết quả điều trị làm chán nản bởi tỷ lệ bỏ ra ngoài cao, sự miễn cưỡng của người nghiện trải qua quá trình phục hồi 4.

          Vào năm 1985, mô hình cộng đồng trị liệu (TC) được giới thiệu tới Bệnh viện Thanyarak với sự giúp đỡ của Daytop Thụy Điển thông qua Quỹ tài trợ UNISWAID. TC Thanyarak đã được thành lập từ sau đó như là một chương trình điều trị tự nguyện cho những người đã hoàn thành chương trình cai nghiện ở các đơn vị bệnh viện. TC Thanyarak  đã có các kết quả gây ấn tượng sâu sắc khi so sánh với các biện pháp phục hồi trước đây. Như là một kết quả, chương trình TC được ủng hộ bởi chính phủ và được mở rộng thành 3 đơn vị nam và 1 đơn vị nữ. Năng suất của TC nam là 50 giường/ 1đơn vị và năng suất của TC nữ là 35 giường.

Hệ thống TC Thanyarak

          Trung bình, đợt điều trị ở TC Thanyarak mất hơn năm rưỡi để hoàn thành. Biện pháp TC bao gồm các kỹ thuật truyền thống đã sử dụng trong mô hình Daytop ở Mỹ. Về cơ bản, TC giống như một gia đình lớn, cung cấp các điều kiện mới và các cơ hội cho người nghiện để xây dựng lại tâm hồn và thể chất của họ. Họ sống và làm việc trong các nhóm dưới sự giám sát đặc biệt. Các hoạt động hàng ngày tạo ra những cố gắng bản thân và giữa các cá nhân với nhau. Liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm và các kỹ thuật TC nào đó hoặc liệu pháp "các công cụ" được dùng để uốn nắn các cách cư xử và giúp mở rộng hiểu biết sâu sắc về phía người nghiện. Các thói quen không lành mạnh được chỉnh đốn lại. Nhiều hoạt động có ích được tiến hành để định hướng lại các giá trị con người và các thái độ của những người nghiện và giúp họ đạt được khả năng để sống độc lập không ma túy khi họ quay trở về hoàn cảnh xã hội thực tế.

          Điển hình, các khách hàng gia nhập vào TC một cách tự nguyện với việc hoàn thành giai đoạn cai nghiện 21 ngày. TC có 4 giai đoạn điều trị: (1) giai đoạn giới thiệu kéo dài trong khoảng 7 đến 30 ngày, (2) giai đoạn điều trị khoảng 1 năm, (3) giai đoạn tái tiếp nhận khoảng 6 tháng, và (4) giai đoạn chăm sóc sau điều trị có thể kéo dài cho đến 5 năm.

          Hai nguyên tắc chính của chương trình để xây dựng lại tâm hồn và thể chất của một người là:

1.     Nâng cao cách sống tự giúp bản thân 8.

2.     Nhấn mạnh về áp lực nhóm để thay đổi các thói quen của con người hướng tới tính cách lành mạnh.

Các biện pháp điều trị khác nhau, được gọi là "các công cụ của Trại", là một phần của cuộc sống hàng ngày của các cư dân của TC trong suốt giai đoạn điều trị. Biện pháp điều trị có thể được phân loại thành 3 nhóm.

1.      Liệu pháp nhóm.  Nhiều quá trình nhóm được ghi thành giờ giấc như  Liệu pháp tâm lý nhóm, Hội nghị nhóm sáng, Hội nghị trại, Cuộc gặp gỡ nhóm tự giúp bản thân, Hội thảo nhóm, v.v…

2.     Liệu pháp công việc.  Có một vài kiểu phân công công việc được mang đến cho các cư dân để làm tăng các kỹ năng nghề nghiệp và tính trách nhiệm. Một số công việc này là những phần không thể thiếu của nhu cầu hoạt động hàng ngày của TC như giữ gìn trại, nấu bếp, bảo vệ, văn phòng nghề nghiệp, v.v…Cũng có các hoạt động học nghề chính quy , ví dụ, nghề mộc, nghề làm kim loại, trồng trọt, làm vườn, nghệ thuật, làm bánh mỳ, v.v…

3.     Liệu pháp cư xử.  Nhiều hoạt động điều trị trong TC được thiết kế để uốn nắn các cách cư xử thông qua một quá trình được gọi là "kinh nghiệm học tập". Các kinh nghiệm học tập này xảy ra hoặc trong hoạt động cá nhân hoặc trong các hoạt động nhóm.

Lúc hoàn thành giai đoạn điều trị, tiếp theo là 6 tháng của giai đoạn tái tiếp nhận sẽ chuẩn bị cho các cư dân tái hòa nhập để sống một cuộc sống bình thường trong hoàn cảnh xã hội thực tế. Trong giai đoạn sau này, các cư dân được cho phép để ở và làm việc ở bên ngòai TC suốt ban ngày. Tất nhiên, nhiều kinh nghiệm xấu thường xuyên lại diễn ra. Các cư dân phải vượt qua những tình huống này. Chương trình tái hoà nhập thông qua quá trình phát triển nhóm hoặc cá nhân, giúp tăng năng lực và tạo cơ hội để người cai nghiện giúp đỡ lẫn nhau. Họ phải xây dựng kế hoạch cho bản thân để sống có bản lĩnh và có trách nhiệm. Kế hoạch đó được thảo luận và đề ra những mục tiêu khả thi. Qua các hoạt động trong phần tái hoà nhập, các cư dân trở nên mạnh mẽ hơn và học được cách đối phó, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Cuối giai đoạn tái hoà nhập, họ được đánh giá xem liệu có đủ năng lực để sống bên ngoài môi trường TC. Trong giai đoạn chăm sóc sau điều trị, họ vẫn bị theo dõi trong 5 năm, để giám sát không còn sử dụng ma tuý và để hỗ trợ cho những người có nguy cơ cao tái nghiện.

Các phương pháp

 Một nghiên cứu được tiến hành trên các trường hợp đã hoàn thành chương trình điều trị TC tại Thanyarak từ năm 1986 đến 2000. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị. Xem xét số liệu từ trung tâm thống kê của bệnh viện về các mặt gồm nhân khẩu, tình trạng nghiện, và tiểu sử tính cách. Nhằm tìm ra những nguy cơ và yếu tố ngăn ngừa tái nghiện trong các khách hàng đã hoàn thành chương trình TC Thanyarak, chúng tôi đã nghiên cứu các khung cải thiện chuẩn được thiết kế bởi J.C. Ravens, Bản tóm tắt cá nhân Maudsley (MPI)9 bởi Jack J. Monroe. Sau khi xuất viện người cai nghiện vẫn được nhân viên bệnh viện Thanyarak hỗ trợ trong giai đoạn chăm sóc sau điều trị. Phần tiếp theo gồm việc về thăm nhà, đến văn phòng làm việc, cũng có thể là tham gia các hoạt động xã hội và các lễ hội do bệnh viện tổ chức.

Các kết quả

Từ năm 1986 đến 2000, có 2,881 ca đã gia nhập chương trình TC tại bệnh viện Thanyarak (2.471 nam, 410 nữ) và chỉ có 278 ca là hoàn thành chương trình TC (261 ca là nam chiếm 93,9%, 17 ca là nữ chiếm 6,1%). Trong giai đoạn n chăm sóc sau điều trị dài 5 năm, có 203 ca kiêng hoàn toàn (chiếm 73%) trong đó có 21 trường hợp bị chết. Có 75 ca tái nghiện (chiếm 27%). Với các trường hợp tái nghiện, từ năm thứ nhất đến năm thứ 5 thì tỷ lệ kiêng bị giảm dần tương ứng theo từng năm là: 91.3, 81.1, 76.6, 73.6 và 72.4% được thể hiện trong Bảng 1

                                              

Bảng 1: Các tỷ lệ kiêng ma tuý tích lũy có tính toán

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

Khoảng

Thời gian

Từ lúc

Bắt đầu

Theo dõi

Kiêng

Tại lúc

Bắt đầu

Khoảng

Thời gian

Tái nghiện

Trong suốt

Khoảng

Thời gian

Chết

Trong suốt

Khoảng

Thời gian

Số lượng

Thực tế

Biểu hiện

Rủi ro

Tái nghiện

Trong suốt

Khoảng

Thời gian

Tỷ lệ

Người

Tái nghiện

Trong suốt

Thời gian

Tỷ lệ

Người

Kiêng

Trong suốt

Khoảng

Thời gian

Tỷ lệ

tích luỹ

Người

Kiêng

từ lúc

Ghi tên tới khi

Kết thúc

Khoảng

thời gian:

Kiêng tích luỹ

Năm thứ 1

Năm thứ 2

Năm thứ 3

Năm thứ 4

Năm thứ 5

278

251

219

203

189

24

28

12

8

3

3

4

4

6

4

276.5

249

217

200

187

.087

.112

.055

.04

.016

.913

.888

.945

.96

.984

.913

.811

.766

.736

.724

Trong 278 trường hợp đã hoàn thành TC, chỉ 247 hồ sơ dữ liệu được hoàn thành và có giá trị cho các phân tích. (nam là 236 trường hợp, nữ là 11 trường hợp, 184 trường hợp kiêng ma tuý và 63 trường hợp tái nghiện)

          Tuổi trung bình: 30.9±6.4 năm. Đối với 184 trường hợp kiêng ma tuý, tuổi trung bình là 30.5± 6.7 năm và đối với 63 trường hợp tái nghiện là 32.6±5.7 năm.

          Tình trạng hôn nhân: Đã có 183 trường hợp đơn độc (74.1%), 37 (15.0%) đã kết hôn và 27 (10.9%) đã ly hôn hoặc ly thân.

          Phân loại theo địa lý

              56.3% trường hợp đã sống ở Bangkok

24.3% trường hợp đã sống ở khu vực trung tâm của Thái Lan, 8.1% ở Phía Bắc, 7.3% ở phía Nam và 4.0% ở phía Đông Bắc

          Giáo dục

49.4% trường hợp  có mức học vấn cao

33.2% trường hợp có mức học vấn cấp 2 được trình bày trong

 

Bảng 2: Giáo dục

 

Mức học vấn                           

Các trường hợp kiêng ma túy N=184

Các trường hợp tái nghiện N=63

Tổng số

%

 

1. Giáo dục không chính quy

2. Trường cấp 2

3. Trường cấp 3

4. Trường dạy nghề

5. Đại học

 

 

2

56

93

30

3

 

1

26

29

7

0

 

3

82

122

37

3

 

1.2

33.2

49.4

15.0

1.2

 

Nghề nghiệp: 70.4% trường hợp là công nhân.

Đặc điểm thói nghiện:

          Kiểu nghiện: 209 trường hợp (84.6%) là những người nghiện Heroin tiêm, 13 trường hợp là những người lạm dụng các chất dễ bay hơi, 6 trường hợp là những người nghiện rượu, và 19 trường hợp là nghiện methamphetamine.

          Thời gian trung bình nghiện : 9.8± 5.7 năm

Lịch sử điều trị và thời gian điều trị trong chương trình TC

          Số lần trung bình họ đến để cai nghiện là 5.2± 3.8 lần và thời gian trung bình điều trị trong TC là 26.6± 6.8 tháng như đã trình bày ở Bảng 3.

 

Bảng 3: Lịch sử điều trị bệnh nhân và thời gian điều trị trong TC.

 

Các trường hợp kiêng (N=184)                Các trường hợp tái nghiện (N=63)

Số lần cai nghiện trung bình (số lần)   5.0± 4.1                         5.8± 4.6

Thời gian trung bình trong TC (tháng) 29.2± 7.1                              25.5± 5.9

Chỉ số thông minh và Tiểu sử tính cách cá nhân

          Có 160 bài kiểm tra chỉ số thông minh và các hồ sơ dữ liệu cá nhân phù hợp cho các phân tích.

          Chỉ số thông minh trung bình là 97.4± 0.7. Các trường hợp tái nghiện có khuynh hướng cá nhân hướng nội như được trình bày ở Bảng 4.

Bảng 4 : Chỉ số thông minh và Tiểu sử tính cách cá nhân

 

Kiểu đánh giá

Các trường hợp kiêng ma túy (N=119)

Các trường hợp tái nghiện (N=41)

Chỉ số thông minh

Bản tóm tắt cá nhân Maudsley

   Kích thích thần kinh - ổn định  (N)* (điểm)

   Hướng ngoại- Hướng nội (E)* (điểm)

PiCS

   Coi trọng bản thân (ES) Điểm trung bình

                  Thấp

                  Bình thường

                  Cao

   Mất xúc cảm (ED) Điểm trung bình

Thấp

            Bình thường

                  Cao

   Thích nghi xã hội (SM) Điểm trung bình

Thấp

                  Bình thường

                  Cao

   Kiểm soát cơn bốc đồng (IM) Điểm trung bình       

                   Thấp

                  Bình thường

                  Cao

   Tính đa cảm (HP)* Điểm trung bình

                   Thấp

                  Bình thường

                  Cao

   Chấp nhận liệu pháp tâm lý (AP)

                   Thấp

                  Bình thường

                  Cao

   Tỷ lệ xa rời bệnh thái nhân cách (PD)

                   Thấp

                  Bình thường

                   Cao

 

97.5 ±10.4

 

24.5 ±9.8

25.8 ±7.3

 

3.4± 2.0

3

99

17

3.6 ±1.3

25

59

35

3.2 ±1.4

13

68

38

3.9 ±1.6

7

46

66

3.6 ±1.6

27

84

8

23.4 ±3.9

21

84

14

23.9 ±4.8

35

73

11

97.0± 10.8

 

26.9± 9.9

23.5± 6.8

 

3.3 ±1.9

1

34

6

3.5 ±1.2

10

22

9

3.5 ±1.3

2

23

16

3.8 ±1.5

2

17

22

3.5 ±1.8

13

20

8

23.9 ±3.7

4

30

7

24.1 ±5.2

13

24

4

         

         

* p< 0.05

Tiểu sử cuộc sống của các bệnh nhân trong suốt giai đoạn chăm sóc sau điều trị:

          Trong các trường hợp hoàn thành, có 152 trường hợp đã có những công việc ổn định, chắc chắn trong suốt giai đoạn chăm sóc sau điều trị, 41 trường hợp trở thành nhân viên người nghiện cũ trong Thanyarak và những tổ chức khác của TC ở Thái Lan. Có 13 trường hợp đã được gửi ra nước ngoài cho việc dạy dỗ thêm nữa trong các kỹ thuật TC (3 trường hợp ở Thụy Điển, 6 trường hợp ở Italy và 4 trường hợp ở Mỹ). Chi tiết được phác thảo như sau:

1.     Nhân viên người nghiện cũ

TC Thanyarak                                                         34 trường hợp

TC khác ở Thái Lan                                                   7 trường hợp

2.     Nhân viên của NGO                                                 28 trường hợp

3.     Nhân viên chính phủ                                                11 trường hợp

4.     Công việc làm Kim loại, Thợ điện, Thợ ống nước,             14 trường hợp

     Công việc dây cáp

5.     Người bán hàng nam                                                10 trường hợp

6.     Lái xe                                                                         7 trường hợp

7.     Người trồng trọt, làm vườn                                        7 trường hợp

8.     Bảo vệ an ninh                                                           6 trường hợp

9.     Tăng ni                                                                       5 trường hợp

10.                        Khác                                                                         23 trường hợp

 

      Thảo luận

      Các đám đông trong nghiên cứu này được so sánh với dữ liệu nghiện ma túy ở đất nước vào năm 199311 của 82,620 trường hợp. So sánh đã tìm thấy không có sự khác nhau (p >0.05) trong giới tính và kiểu nghiện. Nhưng có những sự khác nhau có ý nghĩa trong tình trạng hôn nhân và giáo dục (p <0.01) với 74.3% các đám đông là những người đơn độc, một con số cao hơn những người nghiện ma túy ở đất nước ( 54.2%). Một lý do hầu hết các khách hàng này trong TC được xem là vẫn không bị trói buộc là vì để thuận tiện hoặc không gánh nặng gia đình trong suốt thời gian dài của họ ở trong chương trình TC. Khoảng nửa đám đông đã có học vấn cấp 3. Hầu hết các mẫu trong dữ liệu quốc gia đã có học vấn cấp 2 (42.6%). Có học vấn cao hơn là một thế lợi trong môi trường học tập xã hội của TC. Thực tế, mức học vấn trước điều trị là một trong những đặc điểm của khách hàng đã liên đới với kết quả điều trị tích cực12.

          Các kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy rằng hiệu lực của TC Thái Lan trong Bệnh viện Thanyarak là hoàn toàn có thể so sánh được với các TC khác13. 73.0% trường hợp hoàn thành đã thoát khỏi ma túy trong giai đoạn chăm sóc sau điều trị và 27.0% đã tái nghiện, chủ yếu là do môi trường trước đây của họ và các vấn đề cá nhân. Tỷ lệ tái nghiện là cao nhất trong suốt năm thứ 2 (10.2%) của chăm sóc sau điều trị sau việc hoàn thành chương trình điều trị tại nơi cư trú. Khoảng 8.7% của tổng số các trường hợp tái nghiện đã xảy ra trong suốt năm đầu tiên của chăm sóc sau điều trị sau việc hoàn thành chương trình tại nơi cư trú. Tỷ lệ tái nghiện cao trong suốt năm thứ 2 của chăm sóc sau điều trị có thể là kết quả của việc buông lỏng sự trợ giúp xã hội từ TC khi khách hàng trải qua nhiều lần thiết lập lại cuộc sống của người đó ngoài xã hội. Những khó khăn của giai đoạn chuyển tiếp này một cách rõ rệt là quan trọng hơn nhiều trong các xã hội có những quyền lựa chọn giới hạn cho những người nghiện đang gặp cản trở trong một vài khu vực của xã hội và các kỹ năng nghề nghiệp. Sau năm thứ 2 của chăm sóc sau điều trị, tỷ lệ tái nghiện đột ngột giảm có thể phản ánh quá trình ổn định, mà đã xảy ra trong toàn bộ cuộc sống của khách hàng sau việc điều trị.

      Hầu hết các trường hợp đã sống ở Bangkok và khu vực trung tâm của Thái Lan (80.6%) gần với Thanyarak, nơi mà ít hơn một giờ chạy xe từ Bangkok.

      Thời gian nghiện trung bình của những đám đông là 9.8±5.7 năm. Những người nghiện đã có ít hơn 5 năm nghiện thì kém thích hợp để gia nhập vào chương trình TC. Những người nghiện có kinh nghiệm nhiều hơn đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn và đã nhận rõ rằng chương trình thông thường đã không ngăn ngừa việc tái nghiện.

      Một so sánh giữa các trường hợp kiêng ma túy (184 trường hợp) và các trường hợp tái nghiện ( 63 trường hợp) đã cho thấy không có sự khác nhau

(p >0.05) trong giới tính, phân loại địa lý, nghề nghiệp, giáo dục, kiểu nghiện và thời gian nghiện và kiểm tra chỉ số thông minh, không giống như các nghiên cứu khác đã cho thấy những sự khác nhau trong nhiều nhân tố. Thời gian lưu lại trong chương trình TC, các trường hợp kiêng ma tuý dường như ở lâu (3.7 tháng) hơn các trường hợp tái nghiện, giống như các nghiên cứu khác14. Chúng tôi tìm thấy rằng có một sự khác nhau có ý nghĩa (p <0.05) trong nhân cách giữa 2 nhóm này. Các trường hợp kiêng ma tuý có được những điểm số cao hơn về cá nhân hướng ngoại (25.8±7.3) trong khi các trường hợp tái nghiện dễ bị tác động thần kinh (26.9± 9.9) và tình trạng hướng nội( 23.5± 6.8). Điều này đã chỉ ra rằng kiểu tính cách hướng ngoại là một nhân tố tiên lượng tốt trong khi kiểu tính cách hướng nội- dễ bị tác động thần kinh là một nhân tố rủi ro cho sự tái nghiện. Một cách lý thuyết, con người kiểu hướng ngoại là tin tưởng hơn, an toàn và thân thiện hơn người kiểu mẫu hướng nội.

      Trong Chỉ số đo nghiệm tinh thần được sửa đổi của Kết cấu tính cách, đã được tìm ra rằng các trường hợp tái nghiện có những điểm số khác thường, cả thấp và cao trong Tính cách dễ xúc cảm. Điều này có thể cho thấy rằng các trường hợp tái nghiện đã có tâm trạng không ổn định và các tính chất có thể bị tổn thương xúc cảm có thể gây nên tái nghiện ma túy.

      Mặc dù chương trình TC đòi hỏi nhiều thời gian hơn và phương sách để hoạt động, nhưng kết quả của điều trị gây ấn tượng hơn nhiều một số chương trình điều trị khác. Chương trình TC Thanyarak là một biện pháp điều trị có hiệu quả ở Thái Lan bởi vì nó đã được sửa lại cho phù hợp với văn hóa Thái Lan.

      Nghiên cứu này có nhiều hạn chế. Nó sẽ thích hợp nếu những so sánh được tạo nên giữa những trường hợp bỏ học nửa chừng và các trường hợp hoàn thành tương phản với biến số kết quả đã thiết lập của việc điều trị. Tuy nhiên, không có dữ liệu theo sát có ý nghĩa, giá trị cho những trường hợp bỏ học nửa chừng. Mặc dù nó được nhận xét rằng có một tỷ lệ những người bỏ học nửa chừng trong giai đoạn ban đầu của điều trị, dữ liệu cho các tỷ lệ người bỏ học nửa chừng trong suốt 2 tháng đầu tiên của điều trị cũng không có giá trị như vậy. Tỷ lệ duy trì trong suốt giai đoạn tháng đầu tiên và giai đoạn 6 tháng là những thông tin hữu ích trong lượng giá việc tác động của điều trị lên các khách hàng.

      Nên lưu ý rằng TC Thanyarak là một trong những TC lâu đời nhất ở Thái Lan được thành lập vào năm 1985 và là lâu nhất của một vài chương trình TC do chính phủ đề xướng trong đất nước. Các đám đông trong nghiên cứu này đã bao gồm các trường hợp hoàn thành từ thời gian TC được thành lập vào năm 1985 cho đến năm 2000. Như hầu hết các TC, nó mất một thời gian trước khi các bộ phận điều trị khác nhau của TC Thanyarak được thiết lập ở địa phương và hoạt động có hiệu quả. Trong trường hợp của TC Thái Lan này, quá trình phát triển phải bị mất thời gian dài hơn một ít vì các thay đổi văn hóa phải được đem vào sự tính toán trong việc thích nghi với xã hội Thái Lan, chưa kể đến nhu cầu cho một số lượng đông đủ cá nhân được dạy dỗ một cách đầy đủ để thi hành khái niệm điều trị mới. Tất cả mọi thứ đang ngang bằng, các kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa và đã chứng minh  điều gì đã được tìm thấy trong một vài nghiên cứu16 khi mà những khách hàng là những người đã ở lâu hơn trong quá trình điều trị, qua một vài đo lường kết quả đã cho thấy sự cải thiện chung hơn những người khác mà đã ở những giai đoạn ngắn, về thời gian.

Tham khảo

 

1.     The Thailand Development Research Institute. A Study of the Number of Drug Addicts in Thailand, Bangkok: TDRI, 1995: 54.

2.     Dasananjali T. National Security Policy about Drug Related Problem: Development of Policy and Strategy, Research Report of National Defence College Security, 1998: 1-3.

3.     Noragarnpadung P. Summary of Drug Addiction Knowledge. 1st Ed. Bangkok: Burapba- Samuckee Publishing, 1966:83.

4.     Verachai V, Dechongkit S, Patarakorn A, Lukanapichonchut L. Drug Addicts Treatment for Eight Years in Thanyarak Hospital (1989-1996). Chula Med, 1997; 41(2): 133-40.

5.     Uneklab J, Uneklab T. Thanyarak Therapeutic Community. 1st ed. Bangkok: Thanyarak Hospital, Department of Medical Services, 2535: 12-5.

6.     Surgarman B. Daytop Village, A Therapeutic Community. 1st ed. New York: Irvington Publishers, 1983: 134.

7.     Jones M. The Therapeutic Community: A New Treatment Method in Psychiatry, New York: Basic Books, 1953: 37-8.

8.     De Leon G. The Therapeutic Community and Behavioral Science. Int J Addict, 1990-91: 1537-57.

9.     Narakam V. MPI Test for Adolescent in Heroin Addict and not Addict Group. Research report of Chulalongkorn University, 1981: 78.

10.                  Monta M. Personality in PICS of Heroin Addict. The 4th National Conference on Drug and Substance Prevention and Treatment. Department of Medical Services, 1981: 75-87.

11.                   Department of Medical Services of Ministry of Public Health and Institute of Research of Chulalongkorn University. Statistical report FY 1993: Drug Dependence Information System and Treatment Population. 1993: 3-31.

12.                   De Leon G, Inciardi JA, Martin SS. Residential Drug Abuse Treatment Research are Conventional Control Designs appropriate for Assessing Treatment Effectiveness? J Psychoactive Drugs 1995;27(1):85-91.

13.                  Kooyman M. The Therapeutic Community for Addicts. Rotterdam: University of Rotterdam, 1992: 204.

14.                  Lorente del Pozo JM et al. Psychological and Behavioral Factors Associated with Relapse among Heroin Abusers Treated in the Therapeutic Community. Addict Behav, 1998; 23(2): 155-69.

15.                  Toumbourou J. Hamilton M. Perceived Client and Program Moderators of successful Therapeutic Community Treatment for Drug Addiction. Int J Addict, 1993; 28(11): 1127-46.

16.                  Condelli WS, Hubbard RL. Relationship between Time spent in Treatment and Client Outcomes from Therapeutic Communities. J Subst Abuse Treat, 1994; 11(1): 25-33.

 

Lượng giá chương trình và các nghiên cứu kết quả

( Xác nhận lần nữa Vai trò ý nghĩa của nghiên cứu việc phân phối các dịch vụ điều trị và phục hồi cho những người lệ thuộc ma túy)

Crescencio M. Doma Jr.

Trường Đại học Santo Tomas

Giới thiệu

            Các cộng đồng điều trị (TC) một cách không thể chối cãi được là đã đạt được vị trí như là một phương thức điều trị trong phạm vi phụ thuộc ma túy khi ngày càng nhiều các cơ quan điều trị và phục hồi sử dụng phương thức như vậy trong vùng. Điều này được khẳng định thêm bởi thông tin của Hội liên hiệp các nước châu á của các cộng đồng điều trị (AFTC), cung cấp một nơi gặp gỡ cho việc trao đổi tiếp tục những ý kiến, những kinh nghiệm và những quan tâm suốt theo phương thức TC. Hơn nữa khái niệm TC cũng đang được thử đưa vào cái gọi là " các dân cư đặc biệt" ở trong vùng. Nhưng cũng giống như một số chương trình khác, những tổ chức dùng phương thức như thế sẽ luôn đem đến một điều quan trọng hết sức, đó là phải xác định giá trị hoặc ý nghĩa của TC giữa các khách hàng của nó, những gia đình của họ, các cộng đồng và phạm vi phụ thuộc ma túy nói chung.

            Nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong phạm vi phụ thuộc ma túy; trong giáo dục phòng ngừa, thi hành luật và điều trị và phục hồi mà gần như là các quan tâm của một số trung tâm điều trị và phục hồi (TRC). Tuy nhiên, nghiên cứu dường như không mang lại tầm quan trọng như vậy nếu một số tổ chức chú ý vì tính nghiêm khắc mà chính nó đòi hỏi như là một quá trình khoa học. Bởi vậy nghiên cứu là mục tiêu chính của bài luận văn này để cung cấp một cuộc thảo luận đơn giản về vai trò của nghiên cứu nói chung và cách bố cục của các nghiên cứu kết quả nói riêng trong phạm vi lạm dụng ma túy; đặc biệt trong các chương trình điều trị và phục hồi sử dụng phương thức TC.

Lượng giá xác định và các nghiên cứu kết quả

            Ngày nay, sự cần thiết cho nghiên cứu trong phạm vi phân phối dịch vụ là một việc gì đó mà cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân, tất cả đều thích thú. Đặc biệt nhất, các cá nhân và các nhóm muốn biết hoặc một chương trình nào đó góp phần vào việc chăm sóc sức khoẻ cho những đối tượng của nó, hoặc cộng đồng hoặc xã hội nói chung. Trong trường hợp này, TRCs cũng là chủ đề cho những đôi mắt tò mò không những của các gia đình của các cư dân/ các khách hàng của TC mà còn chính phủ và các cơ sở tư nhân, mà quy định quá trình hoạt động của TC hoặc cung cấp sự ủng hộ việc tồn tại tiếp tục của nó.

            Các nghiên cứu kết quả và lượng giá là một trong các thiết kế nghiên cứu chính đã sử dụng để thiết lập sự hiểu biết sơ đẳng để có thể nói về một vấn đề đặc biệt (nghiên cứu ứng dụng) hoặc giúp những thầy thuốc đang hành nghề hoàn thành công việc (Neuman, 1994:21). Kết quả và lượng giá tác động đánh giá quy mô mà các kết quả chương trình đã đạt được và đánh giá tác động của chương trình trong một dân số mục tiêu bằng cách đánh giá các thay đổi về hiểu biết, các thái độ, cách cư xử, các kỹ năng, các quy tắc tiêu chuẩn cộng đồng, sự sử dụng các dịch vụ y tế và các tình trạng khác. Đặc biệt một nghiên cứu kết quả xác định có các kết quả mà chương trình đang cố gắng tác động đến, đang thay đổi trong một dân cư mục tiêu hay không (Adamchak, 2000). Trong trường hợp của TC, điều này có thể kể đến các yếu tố cơ bản của phương thức TC và tác động của nó trước hết lên cuộc sống của các khách hàng cũng như những người quan trọng khác đang là yếu tố quan trọng của phương thức TC.

            Tuy nhiên nó sẽ được tạo ra rõ ràng ở lúc bắt đầu mà lượng giá đòi hỏi một sự hiểu biết việc đo lường và các điểm chỉ thị. Bằng cách đo lường, điều này nói đến việc sử dụng các phương pháp và các quy trình quan sát có hệ thống và đánh giá. Một vài cách có thể được sử dụng để thực hiện điều này trong mối liên hệ với chương trình thực tế hoặc các dịch vụ đã cung cấp và những đối tượng của nó hoặc các khách hàng. Mặt khác điểm chỉ thị là một sự đo lường các mục tiêu chương trình và các hoạt động. Các thay đổi trong các điểm chỉ thị chứng minh rằng một chương trình đang thực hiện chức năng và có hiệu quả-tích cực hay tiêu cực- đang có giữa các khách hàng (Arskey, 1994:41). Để đánh giá các thay đổi trong các mục tiêu, thông tin cơ sở được so sánh với dữ liệu được thu thập sau khi chương trình đã có tác dụng cho một số giai đoạn thời gian.

            Lượng giá và các nghiên cứu kết quả vì thế giúp những người thi hành chương trình hoặc các cơ quan (a) xác định có hay không và cách các chương trình đang hoạt động; (b) các chương trình vững mạnh (c) các chương trình đặt vào trong một cơ quan; (d) hình thành các quyết định của các cơ quan tài trợ và những người tạo ra chính sách và (e) góp phần vào sự hiểu biết về " cái gì hoạt động" (op cit). Nó có thể định hình (xây dựng- trong việc giám sát hoặc thông tin phản hồi tiếp tục) hoặc tóm tắt (một lượng giá cho các kết quả chương trình cuối cùng) (Neuman, 1994:23).

Các yếu tố của lượng giá các nghiên cứu kết quả

            Có ít nhất 3 yếu tố chính mà những người thực hiện chương trình sẽ quan tâm đến khi họ dự kiến thực hiện một lượng giá hoặc nghiên cứu kết quả cho các chương trình của họ. Bao gồm việc thiết kế, quy trình/ các kỹ thuật thu thập dữ liệu và việc xử lý dữ liệu.       

          Thiết kế nghiên cứu Thiết kế cho biết đường lối chung sử dụng trong nghiên cứu. Lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả thường thường là mô tả và căn cứ chính của nó là sử dụng thực hành ngay lập tức (Neuman, 1994: 21). Thiết kế có thể là chia một lần duy nhất(cắt ngang) hoặc một nghiên cứu dọc mà đòi hỏi một quá trình liên tục- nghiên cứu danh sách, chuỗi thời gian, phân tích đám dông hoặc nghiên cứu trường hợp. Các phương pháp định lượng đảm bảo rằng sự thu thập dữ liệu được tiêu chuẩn hóa qua thời gian và cho phép những đo lường cuối cùng của việc thay đổi trong các kết quả, có thể được tạo ra với một dân số rộng hơn. Điều này có thể áp dụng nhiều nhất cho các nghiên cứu lượng giá vì "chúng có thể được dùng để chỉ ra những thay đổi là do các hoạt động chương trình của bạn (Adamchack, 2000: 19)". Trong trường hợp này, chúng tôi sử dụng các công cụ mà phương thức TC dùng, như là điểm tham khảo của chúng tôi. Trong khi ấy, các phương pháp định tính có thể cũng được sử dụng như vậy để đánh giá các mục tiêu chương trình mà thật khó khăn để đo lường bằng định lượng (op cit). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hoặc những người lượng giá có thể tạo ra cách sử dụng 2 trong một dự án lượng giá để đi tới một bức tranh toàn diện hơn của chương trình đang được lượng giá.

          Lấy mẫu Có thể hiếm trong quá trình và các lượng giá kết quả để lượng giá mọi cuộc tiếp xúc dịch vụ hoặc các thông tin phản hồi thu được về chương trình từ mỗi người tham gia hoặc người hưởng dịch vụ. Trong trường hợp này việc lấy mẫu trở thành một yếu tố cần thiết của nghiên cứu. Việc lấy mẫu là một quá trình nhận biết một đại diện từ dân số được đưa đến. Quy trình lấy mẫu được xác định rõ bởi tổng số dân từ nơi nó sẽ được lấy, bởi người sẽ có trong lượng giá thực tế và các ép buộc ngân sách thông thường.  Một chiến lược lấy mẫu có cơ sở có thể giúp giới hạn đống dữ liệu mà có thể được thu thập không có sự thỏa hiệp tính chất hợp lệ của đầu ra.

          Trong trường hợp của TRC, vấn đề xác định việc lấy mẫu cho các nghiên cứu lượng giá là không to lớn hoặc phức tạp như so sánh với quy trình lấy mẫu đã làm bởi các cơ quan nghiên cứu đang thực hiện lượng giá hoặc kết quả hoặc các nghiên cứu tác động gồm dân số quốc gia.                                                                                                                                                                                                                                                                                            Trong khi tin tưởng rằng số những cá nhân phụ thuộc ma túy tiếp tục tăng thêm trong những cộng đồng nào đó, thì phải quan tâm đến những cá nhân đã trải qua quá trình điều trị và phục hồi và đặc biệt là trải qua phương thức TC vẫn dễ quản lý cho việc lấy mẫu.

          Trong việc xác định lấy mẫu cho lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả cho phương thức TC, những câu hỏi sau có thể giúp những người lượng giá: (1) Có phải tất cả những người tốt nghiệp (những học sinh của phương thức TC từ khi chương trình được thi hành) đã được coi là một phần của dân số hay là sẽ được tập trung vào một khóa học đặc biệt cho một số lượng dễ quản lý nhiều hơn? (2) Có những cơ hội gì để có một sự hoàn thành và sự chỉ dẫn cập nhật / bài nói chuyện về mẫu mục tiêu ? Và (3) Loài người tồn tại và nguồn vật chất của Trung tâm sẽ tính đến sự bao gồm hoàn toàn của mẫu thiết lập đang xem xét rằng một số mẫu/người trả lời có thể sống xa trung tâm ?

          TRC cho đến nay đã đặt thể chế vào những cơ cấu theo vết ở nơi những người tốt nghiệp của họ thông qua " dịch vụ theo dõi " mặc dù, khu vực này cũng cần việc lưu ý nghiên cứu như thế để nói chuyện.

          Các kỹ thuật thu thập dữ liệu Được hình thành sớm hơn mà sự lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả có thể định lượng hoặc định tính tùy thuộc bản chất vào mục tiêu của những người lượng giá. Bản chất của nghiên cứu cũng sẽ xác định quy trình thu thập dữ liệu và kiểu của một/ nhiều phương tiện sẽ được sử dụng trong quá trình.

          Tổng quan  Hầu hết các nghiên cứu mà đã cố gắng xác định kết quả của các dịch vụ điều trị và phục hồi, đã tập trung vào giáo dục, việc làm, gia đình và các quan hệ cộng đồng của những người tốt nghiệp. Trong trường hợp này, các công cụ hầu hết là bản câu hỏi tổng quát hoặc bản liệt kê câu hỏi (Nalumen, 2002) đưa tới người cung cấp tin tức mà do người nghiên cứu tập hợp lại gần đây cho việc đòi hỏi thiết kế và phân tích. Với công cụ kiểu này, những người lượng giá thông thường sử dụng thiết kế có cấu trúc của các câu hỏi có thể trả lời được bằng Yes hoặc No, và các loại được định trước. Đây là đặc điểm cao nhất của một nghiên cứu định lượng theo đuổi xác định phạm vi ảnh hưởng hoặc các thực tiễn mà có thể dễ dàng được tóm tắt trong giới hạn của những con số. Mặt khác, bộ câu hỏi đóng- mở có thể giúp xác định xa hơn nữa các lý do cho các cách cư xử nào đó và các thói quen của các khách hàng sau khi họ đã kết thúc một chương trình điều trị và phục hồi. Đây là sự quan tâm nhiều hơn của các nghiên cứu định tính mà cũng giúp đánh giá tính ứng dụng của các học thuyết hiện có và trong cùng thời gian có thể phát triển các học thuyết bằng các kinh nghiệm của những người cung cấp thông tin/ những người trả lời (học thuyết hiện tượng và học thuyết căn cứ). Tuy nhiên có một số lượng tốt trường hợp sử dụng kết hợp cả  mẫu các câu hỏi có cấu trúc và mẫu các câu hỏi đóng- mở. Tuy nhiên vấn đề với các bản câu hỏi tổng quát là sự thật đối diện với rủi ro có tỷ lệ thu hồi thấp đặc biệt nếu nó được gửi qua bưu điện. Giống như vậy, các kết quả của một công cụ tự thực hiện có lẽ cũng được hỏi trong các khóa học tin cậy- câu hỏi là quả thực không biết khách hàng đã trả lời nó không, đặc biệt nếu sự hướng dẫn của tổng quan không được giám sát hết sức.

          Phỏng vấn  Điều này thông thường được thực hiện dựa trên một người với một người và cơ sở mặt đối mặt. Tuy nhiên phỏng vấn đòi hỏi rằng một hướng dẫn phỏng vấn cần có tính hệ thống mà sẽ giúp phát sinh các thông tin cần thiết, được sử dụng trong mối lưu tâm này. Thực hành phỏng vấn điện thoại trong trường hợp của một tiến cứu giữa những người tốt nghiệp của một chương trình điều trị và phục hồi, thông thường không được thực hành trong khu vực vì một số bất lợi được nhận ra trước đây bởi những người nghiên cứu khác sớm hơn trong các phạm vi khác.

          Các thảo luận nhóm tập trung/ Các phỏng vấn  Việc này có thể được thực hiện cả hai như là một kỹ thuật chính thu thập dữ liệu bằng cách gồm một số lượng có thể quản lý được những người tham gia/ những người cung cấp tin tức trong một thảo luận chung của một hiện tượng được mang đến đang được nghiên cứu. Điều này có thể cũng áp dụng như thế trong các nghiên cứu gồm những học viên tốt nghiệp của phương thức TC và như vậy đã mời gọi những người quan trọng khác mà đóng một vai trò quan trọng trong sự khỏi bệnh hoàn toàn của họ. Một FGD/FGI hoạt động dành riêng giữa chính các học viên tốt nghiệp có thể được thực hiện. Trong lúc ấy, một vòng tròn riêng rẽ gồm các gia đình của họ, những người lao động cùng nhau hoặc những người hàng xóm mà cũng có thể cung cấp các dữ liệu có ý nghĩa về thái độ bị quan sát của sự phụ thuộc ma túy đang thoát khỏi của họ- và có thể có các hoạt động có liên quan đến tái nghiện mà gần đây có thể không báo cáo hoặc thừa nhận để một người nào đó đang thực hiện một cuộc phỏng vấn hoặc đang sẵn sàng cho FGD. Điều này sẽ đáp ứng mục đích làm cho dữ liệu ban đầu từ những người trả lời có giá trị.

          Quan sát. Việc này cũng dùng như là một biện pháp có ý nghĩa để thử  làm các kỹ thuật thu thập dữ liệu trước bổ sung. Tuy nhiên, nó cũng nên được chú ý rằng những người đang thực hiện quan sát phải được đào tạo đúng về việc quan sát nên tập trung vào cái gì; các vấn đề được tìm thấy khi quan sát trong gia đình, cộng đồng, trường học hoặc trong công việc.

          Phép tam giác. Phương pháp này cũng được sử dụng trong việc đánh giá một/nhiều khách hàng trước khi nhận họ vào TRC, cũng có thể có hiệu quả trong một nghiên cứu kết quả gồm các học viên tốt nghiệp hoặc những người hưởng các phương thức TC với 2 lý do chính. Một là, nó sẽ đáp ứng mục đích xác nhận và mặt khác nó sẽ đáp ứng mục đích đầy đủ. Phép tam giác có thể giúp vượt qua các vấn đề về giá trị pháp lý và thành kiến. Arskey, (1999:21) đã nhận ra một số thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phép tam giác trong giám sát và lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả. Trong số những thuận lợi là: (1) nó có thể tăng thêm sự tin cậy các kết quả; (2) có thể làm củng cố thêm sự đầy đủ của nghiên cứu/ lượng giá.; (3) có thể đề cập đến các câu hỏi bổ sung nhưng khác nhau trong một nghiên cứu đơn; (4) nâng cao tính sáng tỏ; (5) sự bất đồng có thể mở ra những vấn đề mới hoặc tiến triển trong phạm vi đó và (6) người nghiên cứu là người gần gũi với hoàn cảnh nghiên cứu. Trong khi đó, một vài khó khăn của biện pháp trên cũng được lưu ý và bao gồm: (1) đó là chi phối thời gian và vì thế có những liên quan đến phương sách của nó; (2) sự tái tạo chắc chắn và các nghiên cứu so sánh có thể gặp khó khăn; (3) những người nghiên cứu có thể không đủ trình độ chuyên môn trong các phương pháp đặc biệt và (4) những người nghiên cứu có thể bị xúi giục tạo ra các bộ dữ liệu mâu thuẫn nhau một cách giả tạo phù hợp để tạo ra một sự tính toán chặt chẽ.

          Phân tích dữ liệu. Trong kết quả và lượng giá tác động, phân tích có thể đáp ứng (1) có hay không và cách chương trình đạt được các kết quả có mục đích và chia các thay đổi ra thành các chỉ thị kết quả, chương trình của bạn có thể hưởng công trạng về cái gì (Adamchak, 2000:133). Về cơ bản có hai phương pháp cho phân tích dữ liệu: phương pháp định lượng cho việc phân tích dữ liệu từ các câu hỏi đóng và phân tích định tính từ các câu hỏi mở (Arskey, 1999:156). Như vậy, chúng tôi có thể nói rằng phân tích dữ liệu được xác định rõ bởi thiết kế nghiên cứu. Công việc đầu tiên trong phân tích dữ liệu định lượng là thực hiện một số "tính toán tần số xuất hiện" cho các biến số được chọn. Tiếp theo là phải khảo sát mối quan hệ giữa các biến số. Mặt khác, dữ liệu định tính có thể không đòi hỏi các công cụ thống kê phức tạp để đi đến việc sử dụng đầy đủ của dữ liệu, đặc biệt nếu nó không đòi hỏi một số kiểm tra giả thuyết. Nó cũng nên được chỉ ra rằng một số dữ liệu định tính sẽ không được mã hóa thành số và không được xếp thành bảng, nhưng đúng hơn được mã hóa như các phạm trù và được trình bày trong các dạng khác (Adamchack, 200:135). Nghiên cứu trường hợp là một ví dụ kinh điển cho việc này.

          Ngày nay, số đếm tốt của các chương trình máy tính có thể được sử dụng trong việc tổ chức nhanh và phân tích dữ liệu. Ngày nay, các cơ quan nghiên cứu đã được hưởng nhiều lợi ích từ kỹ thuật này. Thông thường hầu hết chương trình được sử dụng là Exel, SPSS, STAT và NU.DIST.

 

Người sẽ thực hiện lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả?

          Quá trình lượng giá là rất phức tạp và chủ quan, theo Suchman(1967:11). Nó gồm sự kết hợp của các giả định cơ bản nằm dưới các hoạt dộng đang được lượng giá và những người đang thực hiện lượng giá. Trong hầu hết trường hợp, lượng giá lời nói bị lo ngại nếu không thì bị căm ghét hoặc có thể cả bởi những người quản lý chương trình và nhân viên đang thực hiện quy trình chương trình. Vì vậy, bây giờ chúng tôi đặt câu hỏi: Người sẽ thực hiện việc lượng giá ?

          Lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả cho các TRC có thể được thực hiện bởi nhân viên TRC, bởi một người không chuyên môn, hoặc một sự kết hợp cả hai. Sử dụng các nhân viên trong Trại cho việc lượng giá và các nghiên cứu kết quả đưa ra một số thuận lợi và khó khăn. Thứ nhất, các nhân viên trong Trại đã thân thuộc với chương trình và có thể được đào tạo nhanh chóng về những điều kiện cần thiết của nghiên cứu. Thứ hai, họ cũng có thể nhận thức thấy các điểm mạnh chương trình và điểm yếu mà cần phải chú ý. Thứ ba, các kết quả của lượng giá sẽ hữu ích hơn cả cho nhân viên chương trình mà được đặt vào vị trí để thay đổi và cải tiến chương trình sao cho phù hợp. Cuối cùng, điều đó là khả thi hơn về tài chính.

          Mặt khác, việc gồm một phương sách bên ngòai hoặc đội để thực hiện lượng giá cũng sẽ có ý nghĩa. Trước hết là sự thật họ được nhận thức là khách quan hơn trong việc rút ra các kết luận và khuynh hướng có được sự tín nhiệm hơn.

          Sự hợp thành đa kỷ luật của một đội lượng giá đặc biệt nếu là một nhóm bên ngoài cũng sẽ rất giúp ích. Từ khi phương thức TC gồm các thành phần khác nhau, sự tham gia của các chuyên gia trong các phạm vi riêng hợp nhất như là các yếu tố của phương thức TC (thay đổi thái độ, tinh thần, sự trợ giúp của gia đình, v.v...), nhưng hầu hết tất cả ưu tiên sẽ được đặt vào những người có một quá trình đào tạo tốt dựa trên vấn đề lệ thuộc ma túy như các bác sỹ y học, các nhà tâm lý học, các thầy thuốc bệnh tâm thần, những người lao động xã hội, các nhà xã hội học, v.v...

          Tuy nhiên, việc dùng phương sách bên ngòai hoặc đội cho mục đích này sẽ đòi hỏi sự định hướng cẩn thận về phía chương trình là tất cả về cái gì và hầu hết tất cả sự liên quan về tài chính nó sẽ có dựa trên môi giới hoặc một yêu cầu cho một lượng giá.

 

Phát triển một mô hình cho các nghiên cứu kết quả đặc trưng TC.

          Trong một hội nghị gần đây, đã chứng minh rằng không có phương thức điều trị chính xác hoặc tuyệt đối mà sẽ áp dụng cho tất cả các khách hàng của các TRC hiện có trong khu vực. Một giải pháp chọn lọc hoặc sự kết hợp của một vài giải pháp có thể là cần thiết tùy thuộc vào xu hướng hiện có của những người lạm dụng ma túy nói chung và vào đánh giá nhu cầu của người tìm kiếm sự can thiệp nói riêng. Vì vậy, chúng tôi có một cuộc thảo luận tiếp tục và mối quan tâm hơn nữa về "Biện pháp chọn lựa/ bổ sung". Việc như vậy có thể được nói về vấn đề một lượng giá hoặc mô hình kết quả mà những người thực hiện chương trình có thể sử dụng trong sự nỗ lực của họ để xác định rõ "cái gì làm việc" trong cộng đồng của họ. Tuy nhiên, điều gì xuất hiện là chủ yếu, nếu mục đích của chúng tôi là phải xác định thật rõ sự ảnh hưởng của phương thức TC trong việc phân phối các dịch vụ điều trị và phục hồi trong số những khách hàng của chúng tôi là do chúng tôi để đi tới các diểm chung hay các thông số mà sẽ xác định rõ cái gì chúng tôi xem như là TC. Cũng được lưu ý rằng trong các hội nghị toàn thể trước, chúng tôi đã nghe nói cách TC đang được thực hiện trong các cơ quan riêng hoặc các cơ quan. Chúng tôi không nói rằng một cơ quan không đang thực hiện một TC thật trong khi cơ quan khác có biện pháp TC thật. Mỗi biện pháp có thể được hiểu một cách rõ ràng bởi triết học, các khái niệm, tính chất tinh thần của riêng nó và sau hết là sự áp dụng chương trình điều trị hoặc các hoạt động của nó (Nguyen, 2002). Ngay khi khu vực này sẽ được giải quyết, một mô hình dẫn đường có thể sẽ được thử trong các cơ quan thành viên của AFTC.

          Nếu không có các mục tiêu ít nhất đạt tới cùng một mô hình chung cho một lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả, quy định chung sẽ là " Quay trở lại các nền tảng". Chúng tôi có thể xem các bước sau như những hướng dẫn cho lượng giá hoặc các nghiên cứu kết quả sau này của chúng tôi. Đầu tiên, luôn xem các mục tiêu chương trình và các mục đích như là các trọng tâm chủ yếu của lượng giá. Thứ hai, xem xét kỹ các thành phần của chương trình bằng cách xác định rõ các thành phần này được thực hiện/ đưa ra sự thực hành (quá trình) thế nào và các thành phần/ các hoạt động được cần đến ở hiện thực là bao nhiêu. Thứ ba, các hiệu quả được quan sát là gì về người nhận trong suốt quá trình thực hiện (lượng giá hình thành) và sau khi hoàn thành chương trình (lượng giá tóm tắt- kết quả).

Các kết luận và đề xuất

          Nghiên cứu nên luôn được đưa ra sự để cách đủ rộng trong việc trình bày rõ ràng chương trình nào đó, việc tiến hành thực tế và xác định nhiệm vụ thực tế. Trong khi lĩnh vực lạm dụng và lệ thuộc ma túy đã được xem xét bởi nhiều người như là một phạm vi nghiên cứu quá mức, vẫn có nhiều chỗ cho các khảo sát xa hơn. Một trong những điều này là phạm vi điều trị và phục hồi nói chung và phương thưc TC nói riêng vì nó tiếp tục tiến tới trong nhiều nơi khác nhau của thế giới, đặc biệt khu vực châu á. Trong khi nó là sự thật rằng nghiên cứu đòi hỏi một quá trình có hệ thống như một sự nỗ lực khoa học, sự phức tạp của quá trình như thế sẽ không sửa đổi được sự cần thiết phải xác định rõ hoặc các chương trình nào đó hoặc các phương thức đặc biệt trong lĩnh vực phân phối dịch vụ điều trị và phục hồi giữa những cá nhân phụ thuộc ma túy.

          Sự chỉ đạo một lượng giá và các nghiên cứu kết quả sẽ linh hoạt trong các giới hạn của các thiết kế được chọn và các kỹ thuật thu thập dữ liệu mà không mất tính khách quan và tính hợp lệ của quá trình. Trong khi các biện pháp thông thướng hướng tới lượng giá vẫn đáp ứng các mục đích của nó, sử dụng các biện pháp lựa chọn như biện pháp đa kỷ luật có thể được thử vì nó có thể được cần đến.

          Trong quan niệm của các biện pháp TC hiện có được sử dụng bởi các cơ quan thành viên của AFTC và cho các mục đích của nghiên cứu ứng dụng như là một chương trình đầy đủ của phân phối dịch vụ giữa các TRC, nó được đòi hỏi rằng một nghiên cứu ban đầu về "các thành phần/ các yếu tố của phương thức TC" trong các cơ quan này được thực hiện cho hội liên hiệp tới một lần và cho tất cả các đoàn thể xác định và những khác nhau có thể xảy ra trong việc thi hành TC.  Bằng việc thực hiện diều này như là một bước ban đầu, có thể không có lý do tại sao một kiểu lượng giá dễ thực hiện mà có thể được sử dụng bởi các cơ quan thành viên của AFTC lại không thể được thiết lập. ý kiến này có thể tạo ra một số kiểu khó chịu cho một số người thực hiện chương trình vì có thể lo sợ xảy ra là họ có thể bị kết tội về quyền sử dụng phương thức TC trong cơ quan của họ khi tiêu chuẩn chung có thể chứng minh nó bằng cách khác.          Tuy nhiên, tốt nhất là đánh giá các căn cứ riêng của chúng tôi mà chúng tôi đã có số lượng cần thiết và sự can đảm để tiến lên như là một gia dình và phân phối các dịch vụ cần thiết cho các khách hàng của chúng tôi cả tại các TRC cũng như những dân cư đặc biệt chúng tôi gần đây đã có các dịch vụ điều trị và phục hồi.

          Sau đây là một số nghiên cứu kết quả hoặc lượng giá đặc trưng TC được đề nghị, có thể được thử nghiệm hoặc được tiếp tục (nếu nó đã được thực hiện sớm hơn) hoặc trong địa phương hoặc mức độ vùng:

1.      Một nghiên cứu tòan diện về hiệu quả của mỗi thành phần phương thức TC hoặc các công cụ.

2.     Theo dõi và hỗ trợ sau điều trị cho các học viên tốt nghiệp TC.

3.     Các vấn đề và triển vọng của việc thực hiện theo phương thức TC trong một khung trừng phạt/ nhà tù hoặc các trung tâm tiếp nhận thanh niên.

 

Tham khảo:

 

Adamchak, Susan et al.          

2000

 

 

 

 

 

Arskey, Hilary và                    

Peter Knight, 1999

 

Manuel, Matilde D.,1999

 

 

 

 

 

Nalumen, Dolores, 2002

 

 

 

 

Neuman, W Lawrence

1994

 

Nguyen, Fr. Thien Chi            

2001

 

 

Punch, Keith, 1998

 

 

 

Seale, Clice biên tập, 1998

 

 

Suchman, Edward A.              

1967

A Guide to Monitoring and Evaluating

Adolescenr Reproductive Health Programs,

Tool Series 5 FOCUS- Pathfinder

International - Future Group International -

Tulane University, School of Public Health

And Tropical Medicine, USA.

 

Interviewing for Social Scientists, SAGE

Publications, London.

 

"An Outcome Study of the Therapeutic Community (TC) Treatment Modality in the Treatment and Rehabilitation Process of Drug Dependents in the Philippines" in 4 th AFTC

Conference Proceedings, Thailand.

 

"Evaluation of the TC Program in the Parole and Probation 2000 Program in the Philippines" in Workshop II, 5 th AFTC

Conference, Bangkok, Thailand.

 

Social Research Methods, 2nd ed. Allyn and Bacon, Massachusetts.

 

"Alternative/complementary Approaches" in Workshop III, 5th AFTC Conference, Bangkok, Thailand.

 

Introduction to Social Research: Quantitative and Qualitative Approaches, SAGE Publications, London.

 

Researching Society and Culture, SAGE Publications, London.

 

Evaluative Research (Principles and Practice in Public Service and Social Action Programs), Russel SAGE Publications, New York.

 

 

 

Đang xem 775

Hôm nay 225

Tổng lượt xem 15,358,012