THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

BÁO CÁO TẠI HỘI THẢO II

SỬA LẠI KHÁI NIỆM CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG (CBCĐ) CHO PHÙ HỢP VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ Ở CHÂU Á

Ngày 19 – 8 – 2002

 

Chủ toạ:                     Dato’Zainuddin bin Abdul Bahari            (Malaysia)

Báo cáo viên:                        

  • Cha cố Barnabe D’ Souza               (ấn Độ)          
  • Bà Dolores J. Nalumen                    (Philippines)
  • Ông Aamir Shahzah                         (Parkistan)
  • TS. Irene S. Lim                                (Philippines)

Công tác chuẩn bị:  

  • Ông Jaafar Daud                               (Malaysia)
  • Ông Roslan Yahya                           (Malaysia)

Số người tham dự:    29 người

 

Tóm tắt về trình bày của các báo cáo viên:

Báo cáo viên đầu tiên là cha Barnabe D’ Souza từ Sheltor Don Bosco của ấn Độ. Ông bàn về chương trình CBCĐ ở khu vực của mình, phục vụ chủ yếu cho trẻ em đường phố. Ông giải thích cách thức mà chương trình giúp trẻ em đường phố ở ấn Độ chuyển từ một cuộc sống dễ bị tổn thương và vô vọng sang một cuộc sống có ý nghĩa cùng cảm giác an toàn và có giá trị.

Báo cáo viên thứ hai từ Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá ở Philippines. Dolores Nalumen thông báo với mọi người rằng họ đang thực hiện các chương trình CBCĐ mà ở đó người bị quản chế án treo, tha bổng và được ân xá đều có mặt đều đặn theo lịch của chương trình CBCĐ.

Ông Aamir Shahzad – báo cáo viên từ Pakistan thảo luận về những nhóm cộng đồng dân cư khác nhau ở đất nước mình và cách mà mô hình CBCĐ giúp đỡ những nhóm người này. Ông còn thêm rằng ICAN – một tổ chức phi chính phủ đã cung cấp một chương trình cai nghiện thậm trí cho cả những người mà nhiều chương trình khác đã bất lực.

TS. Irene Lim – báo cáo viên từ Cục Quản lý Nhà tù của Philippines tập trung vào CBCĐ trong hệ thống nhà tù.  Bà đã liệt kê những thuận lợi và khó khăn của Cục trong việc thực hiện CBCĐ. Bà cho biết thêm là CBCĐ đang được tiến hành ở 6 cơ sở giam giữ của Cục.

 

Những vấn đề được thảo luận:

Một câu hỏi được đưa ra là bằng cách nào các báo cáo viên xử lý “hội chứng cháy bỏng”, làm việc với những người bị cách ly với xã hội. Mỗi báo cáo viên đã nói những cách riêng của mình để đương đầu với sự căng thẳng hàng ngày trong công việc.

Cũng có một thảo luận về bản chất của tâm linh đối với tôn giáo. Một trong số người dự đã chỉ ra rằng tâm linh không liên quan gì đến tôn giáo bởi vì nó là mối quan hệ của con người với đồng loại và đấng tối cao.

Các vấn đề được thảo luận khác liên quan việc chống đối của tù nhân với CBCĐ và nhu cầu để các cơ sở được công nhận bởi các cơ quan chức năng liên quan của chính phủ.

 

Các đề xuất và giới thiệu:

Các đề xuất và giới thiệu gồm những việc sau:

-   Các cơ sở CBCĐ phải có công nhận từ cơ quan chức năng liên quan của chính phủ để hợp pháp hoá hoạt động.

-   Nên phát triển thêm những lãnh đạo có tinh thần trong chương trình.

-   Tập huấn thêm cho nhân viên về tâm linh để họ có thể sử dụng nó thúc đẩy người nghiện thay đổi.

-   Luôn phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ để cung cấp tài chính và hỗ trợ hậu cần cho chương trình.

 

SỬA LẠI KHÁI NIỆM CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG CHO PHÙ HỢP VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ Ở CHÂU Á (TRẺ EM ĐƯỜNG PHỐ Ở MUMBAI – ẤN ĐỘ)

 

Cha Barnabe D’ Souza

Chữa bệnh Cộng đồng Sheltor Don Bosco

ở ấn độ việc di cư và di chuyển đến các thành phố lớn do đói nghèo là một thực tế rõ. Mumbai là thủ phủ thương mại của ấn độ thu hút nhiều loại người đến, nhưng cũng tồn tại đặc điểm bóc lột và xâm hại ở bên trong nó. Trong bối cảnh đó trẻ em đường phố đứng trước tình trạng dễ bị xâm hại, điều đó đòi hỏi cần có những chiến lược đối phó tuy rằng nó có thể làm thiệt hại, bất lợi cho chất lượng hiện có.

Tính chất nguy hiểm của việc sử dụng các chất hoá học cũng giống như cờ bạc, lạm dụng tình dục và tình dục bừa bãi đều có mặt và được dệt trên tấm vải đời sống đường phố. Sự phức tạp về văn hoá - xã hội trong đời sống đường phố cũng chứa đựng việc sử dụng ma tuý dưới nhiều hình thức không phải là một nhân tố làm cách ly mà lại là nhựa sống cho nhiều chiến lược cứu sống.

 

Chữa bệnh Cộng đồng Sheltor Don Bosco: Giai đoạn I

 

GIAI ĐOẠN I:  QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ NHẬN THỨC, ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG & CHUẨN BỊ:THÔNG QUA CON NGƯỜI VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRÊN ĐƯỜNG PHỐ (THỜI GIAN: THEO NHỊP ĐỘ CÁ NHÂN)

Trên đường phố chúng không học được các giá trị, đạo lý, và sẽ quay trở lại cái gốc văn hoá ban đầu của chúng. Việc không được học sẽ càng làm cho chúng mất Gốc. Mô hình sống mới được phát hiện có tính biểu tượng về một sự liên tục –một vận động từ:

 

Bị xâm hại  →  Còn sống sót  →  đến các Chiến lượng đối phó

 

Dựa trên sự vận động này nổi lên một cái văn hoá theo lối ‘sống hôm nay, ngày mai chưa cần biết’, ‘Nếu không đánh nổi chúng thì hãy nhập bọn với chúng’ (tức là cờ bạc và nghiện hút). ‘Đó là cách được tồn tại nhanh nhất’, vv.  ở vào ngữ cảnh đó thì việc sử dụng và lạm dụng các chất hoá học được xem là một chiến lược để tồn tại. Với bọn trẻ nghiện ngập đường phố thì một lối sống trong sạch sẽ rất kinh tế và tốt cho sức khoẻ. Trong giai đoạn bị tổn thương và vô vọng này thì một sự vươn tới và một le lói được giúp đỡ là cái mà bọn trẻ đang len tới.

 

Sheltor Don Bosco - Chữa bệnh Cộng đồng : Giai đoạn II

GIAI ĐOẠN II:  QUÁ TRÌNH CAI NGHIỆN

  • Tư vấn, khuyên bảo Tiền Chữa bệnh Cộng đồng
  • Nhập viện
  • (Thời gian: 2 tuần +)

Giai đoạn cai nghiện cho trẻ đường phố là một giai đoạn ‘tạm ngừng suy tư’. Một giai đoạn lục vấn tư tưởng và động cơ để đi đến cai sạch, là một giai đoạn thai nghén để chúng suy nghĩ và quyết định tiếp tục hay bỏ dở chương trình.

Những độc hại bên ngoài vẫn còn không ít, cần một nghị lực và nhổ tận gốc. Sự vận động đến một khuôn mẫu cuộc sống bền vững bắt đầu từ việc cai nghiện. Sự có mặt và ảnh hưởng của bọn trẻ cùng trang lứa tại khúc ngoặt này có tác động đến sự tiếp tục ở lại chương trình.

Sheltor Don Bosco - Chữa bệnh Cộng đồng:  Giai đoạn III

GIAI ĐOẠN III: QUÁ TRÌNH CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG

-   Bắt đầu quá trình phục hồi (phục hồi lại)

-   Vơi đi những tổn thương

-   Các liệu pháp

(Thời gian: 12 - 14 tuần)

Sửa đổi ban đầu cho một hệ thống trong Chương trình CBCĐ với các việc như: các nguyên tắc của luật lệ, kỷ luật, chính sách ngăn chặn nổi nóng, tức giận đã chuyển biến chậm chạp. Sự chuyển biến này đòi hỏi sự đương đầu, khả năng điều chỉnh và một sự thay đổi chỗ dựa về an ninh trong Chương trình.

Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng ở đây giải quyết các việc:

-   Không có nhiều khuôn mẫu và hành vi lạm dụng các chất nhưng lại nhiều và hấp thụ một cảm giác tự thấy có giá trị. (nghĩa là bạn thấy có giá trị hơn cái rẻ mà bạn nhặt lên)

-   Xây dựng sự tự tin của bản thân đòi hỏi lòng tự trọng và hướng các hoạt động vào kỷ luật tự giác.

Một lần nữa quá trình có thể được trình bày theo một đường liên tục là:

 

Từ khi                        →                    Cho đến

chưa được tổ chức                           những khuôn mẫu sống có tổ chức

Trong quá trình này bọn trẻ sẽ không học những khuôn mẫu trên đường phố mà học một hệ thống các giá trị cho sự hình thành tương lai sau này. Từ các hoạt động kinh tế đời thường để mưu sinh cho đến một tầm nhìn, như những nhu cầu cơ bản để được sống và đảm bảo an ninh, tất cả đều nằm trong Chương trình CBCĐ.

Chương trình trở thành một tâm trấn trong cuộc đời bọn trẻ, như được sống lại. ở đó những nhu cầu được sống, an ninh, kỷ cương và một tương lai đầy hứa hẹn được tạo ra và xây đắp lên.

Sheltor Don Bosco - Chữa bệnh Cộng đồng:  Giai đoạn IV

 

GIAI ĐOẠN IV: QUÁ TRÌNH HOÀ NHẬP XÃ HỘI I

-   Giáo dục chính quy và không chính quy

-   Phương pháp luận dựa trên cơ sở Chương trình

trong hệ thống cá nhân và nhóm nhỏ

(Thời gian: cho việc đào tạo và việc làm)

 

Việc kiểm tra và sự thật hiện nay về kinh nghiệm học hành của bọn trẻ này – trong khuôn khổ Chương trình chưa đầy đủ này, thì chưa có hệ thống hỗ trợ nào, ngoài những gì của người cung cấp chương trình.

-   Việc bóc dỡ Chương trình lớn thành từng nhóm nhỏ hơn.

-   Việc thay đổi vai trò từ sự phụ thuộc từ một chương trình có tổ chức sang vai trò có trách nhiệm, đưa ra quyết định và hệ thống giám sát thu nhỏ hơn, lại một lần nữa đặt ra yêu cầu phải cần có sự điều chỉnh.

-   Sự thay đổi về mục đích, từ việc tiếp tục làm việc như quá khứ sang làm việc vì một tương lai. (nghĩa là kỹ năng hay đào tạo về học hành của bọn trẻ)

Sheltor Don Bosco - Chữa bệnh Cộng đồng:  Giai đoạn V

GIAI ĐOẠN V: QUÁ TRÌNH HOÀ NHẬP XÃ HỘI II

  • Sống độc lập với gia đình
  • Sự hoà hợp / và hình thành gia đình mới

(Thời gian: theo nhịp độ cá nhân)

Quá trình cuối cùng của sự chuyển đổi từ Chữa bệnh Cộng đồng sang các hình thái cuộc sống được minh hoạ có so sánh  với các nhu cầu của trẻ em đường phố bị nghiện thông qua Chữa bệnh Cộng đồng:

Chương trình CBCĐ Sheltor Don Bosco ở Lonavala, ấn Độ đã tiến hành chức năng với phương pháp luận trên, với khoảng 50 – 60% trẻ có triển vọng tương lai vững chắc và tiếp sau đó là hình thành những hình thái cuộc sống mới chỉ trong khoảng thời gian từ 22 – 24 tuần. Mô hình Chữa bệnh Cộng đồng được điều chỉnh cho nhóm dân cư này theo một sự vận động:

 

         Từ                                              Chuyển sang                                        Chuyển sang

cuộc sống trên          →               dời bỏ đường phố          →        hình thành những

   đường phố                                                                                 hình thái cuộc sống mới

 

CHƯƠNG TRÌNH CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG SHELTOR DON BOSCO

(từ tháng 9/1999 đến 8/2002)

Số lượng trung bình Trẻ em đường phố được điều trị qua các giai đoạn từ tháng 9/1999 đến 8/2002.

Số trại đã hoàn thành:   7

Nhóm tuổi:    14 - 21

Số lượng trẻ em nam đã tham gia:

Giai đoạn I    –   Chuẩn bị:                                      750

Giai đoạn II   –   Cai nghiện:                                   240

Giai đoạn III  –   Chữa bệnh Cộng đồng:               160

Giai đoạn IV  –  Hoà nhập xã hội (đào tạo):        130

Giai đoạn V   –  Hoà nhập xã hội (tự chủ):          110

 

Số liệu trên cho thấy một tỷ lệ cao trẻ nghiện (68,75%, tức là 110 trẻ trong số 160 đứa) đã đi qua được tất cả các phần quy trình điều trị của Chương trình, và từ giai đoạn III trở đi là đều đã bước được vào gia đoạn hoà nhập xã hội.

Quá trình Chữa bệnh Cộng đồng dành cho trẻ em đường phố đã lấp đầy lỗ hổng cho trẻ về các mặt: những giá trị của gia đình, sự kiểm soát, an toàn, và chỉ dẫn, dạy bảo. Nó đã vận dụng sự biến đổi trong văn hoá đường phố và dựa vào những hiểu biết của trẻ đã có từ trước hoàn toàn phản ánh các liệu pháp cho sự phù hợp với hoà nhập xã hội.

*  Cho dến Giai đoạn IV của Chương trình mất từ 22 – 24 tuần

(Giai đoạn V là một quá trình liên tục)

·        Kết luận:

Mô hình Chữa bệnh Cộng đồng gồm nhiều phần trong nó, đã được sửa đổi cho phù hợp với những cộng đồng dân cư. Yếu tố bền vững mà Chương trình CBCĐ rèn luyện, giúp nhận ra mục tiêu tương lai, đã tạo ra một thay đổi về mô hình: từ sự không an toàn, không ước vọng, bị xâm hại, sang một cảm giác được đảm bảo an ninh, ý thức tự tin, vượt lên trên những nhu cầu tối thiểu để đến một cuộc sống có ý nghĩa và đầy ý nghĩa.

 

SỬA LẠI KHÁI NIỆM CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG CHO PHÙ HỢP VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ Ở CHÂU Á

 

Luật sư, Thạc sĩ Dolores J. Nalumen

Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá

 

Giới thiệu: Cụ thể một số nhóm dân cư cho Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng ở Philippines

ý nghĩa ban đầu và ứng dụng của Mô hình Chữa bệnh Cộng đồng là dành cho những người nghiện ma tuý tại một cơ sở hoặc trung tâm phục hồi dưới sự quản lý của nhà nước, ví dụ như Trung tâm Phục hồi nhóm Narc ở Bicutan hoặc những tổ chức tư nhân ví dụ như tổ chức SELF ở thành phố Tagaytay.

Song cuối cùng thì Chương trình được áp dụng cho cả tù nhân đang chấp hành án ở Nhà tù Quốc gia thuộc Cục Trừng phạt và Cải tạo và các nhà tù thành phố do Cục Quản lý Nhà tù quản lý.

Các phạm nhân thuộc diện án treo, ân xá, hay được tha bổng có điều kiện được xếp vào một nhóm dân cư cho Chương trình CBCĐ.

 

Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá:

Cơ quan chúng tôi là một cơ quan ngành dọc thuộc Bộ Tư pháp. Nó được thành lập là một Cơ quan Quản chế án treo theo Nghị định của Tổng thống số 968 ngày 24/7/1976.

Ngày 23/11/1989 theo Sắc lệnh số 292, còn được biết đến như là Bộ luật Quản lý năm 1987, Cơ quan được giao thêm nhiệm vụ giám sát tù nhân được thả do được ân xá hoặc tha bổng có điều kiện và vì vậy mà tên goi được đổi là Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá (PPA).

PPA đã tự đề ra cho mình là “một mô hình của Hệ thống Trừng phạt và Cải tạo nhằm tăng cường chất lượng cuộc sống cho con người thông qua các nguồn và chương trình có tính đa kỷ luật nghiêm, là một tổ chức hữu hiệu có lực lượng lao động chuyên nghiệp cao để tăng cường phát triển và công bằng xã hội”.

Nhiệm vụ của PPA là: “phục hồi cho những người bị quản chế án treo, người được ân xá, tha bổng, đẩy mạnh sự phát triển hội nhập của họ bằng cách dùng các kỹ thuật và những can thiệp tiên tiến có tôn trọng chân giá trị của con người cũng như công nhận đức tin thiêng liêng của họ.

 

Công tác chuẩn bị triển khai Chữa bệnh Cộng đồng:

Mô hình Chữa bệnh Cộng đồng cho việc hình thành hành vi và học một lối sống mới được giới thiệu ở Mỹ vào những năm thập niên 1960 đã chứng minh là một sự can thiệp có hiệu quả cho công tác phục hồi người nghiện ma tuý không chỉ ở Mỹ mà ở cả châu á.

Tháng 6/1998, với sự hỗ trợ tích cực của Cục Thực thi Luật pháp và chống Ma tuý Quốc tế (INL) thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một chương trình đào tạo về khái niệm, triết học, các công cụ và động lực của Mô hình CBCĐ đã được thực hiện. Tổ chức Quốc tế Daytop của thành phố New York đã gửi 3 cán bộ đến giảng dạy cho khoá tập huấn dài 6 tuần gồm 6 môđun cho 72 cán bộ, nhân viên đang làm việc tại các cơ quan trong Hệ thống hành pháp chống tội phạm. Trong số này có 35 người của Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá (PPA), được chọn từ các khu vực: 3, 4, 6, 7, 9, 10, 11, 12 và Thủ đô Nhà nước.

Sau khi hoàn thành môđun cuối cùng vào tháng 8/1999, người tham dự tập huấn trên lại mở các hội thảo chuyên đề, phổ biến cho các đồng nghiệp ở nơi họ công tác. Đến nay, phần lớn các cơ sở trong lĩnh vực này ở 9 khu vực có tham gia đều đang sử dụng mô hình CBCĐ là chương trình phục hồi cơ bản cho các đối tượng có các vấn đề về hành vi và ma tuý.

Tháng 3/2000, Cơ quan Quản lý của PPA, là cơ quan đứng đầu, đã thành lập một Uỷ ban Điều phối Chương trình CBCĐ để giám sát cũng như đảm bảo sự thành công và hoạt động liên tục của Chương trình. Trong số những dự án đầu tiên mà Uỷ ban này thực hiện là việc tiến hành điều tra về thái độ, quan điểm của đối tượng được điều trị và của cán bộ, nhân viên đối với những công cụ của CBCĐ cũng như sự nhận thức về tính hiệu quả của các công cụ này.

Uỷ ban này cũng đã xây dựng một bản Hướng dẫn cho người thực thi chương trình, đồng thời cũng tiến hành nhiều cuộc tập huấn cho cán bộ, nhân viên của PPA cũng như các cán bộ huấn luyện – những người sẽ phục vụ trong các tập huấn liên ngành.

 

Người được hưởng án treo, ân xá và tha bổng là những nhóm đối tượng đặc biệt của Chương trình CBCĐ:

án treo là một cách bố trí mà theo đó người phạm tội sau khi bị kết tội và tuyên án được thả ra với một số điều kiện do toà án đặt ra và chịu sự giám sát của cán bộ quản chế án treo. (Theo Nghị định Tổng thống số 968, Phần 1, khoản a)

 

 

Ân xá là việc thả tự do cho những tù nhân sau khi họ đã chấp hành một phần của bản án phạt tù.

Tha bổng có điều kiện là việc trả tự do cho người phạm lỗi, miễn khỏi các hình phạt được toà án quyết định nhưng phải có một số điều kiện nào đó.

 

Người được hưởng án treo, được ân xá, và tha bổng là những nhóm đối tượng đặc biệt của Mô hình CBCĐ vì họ không phải là những nhóm dân cư bình thường cho Chương trình hướng tới và thực hiện.

Họ sống ở nhà riêng trong cộng đồng chứ không phải ở các cơ sở. Họ sống cùng gia đình, đi làm hay đi học, tự do quan hệ với cộng đồng và xã hội.

Không giống những đối tượng khác ở Trung tâm CBCĐ, họ không theo một chế độ nghiêm ngặt, không bị giám sát liên tục về các mối quan hệ. Họ được phép tự giác, tự chủ cuộc sống, quản lý gia đình và các công việc của mình.

Sống như bình thường trong cộng đồng nên họ có bị tác động từ môi trường xung quanh, những cơ hội và cám dỗ khác nhau để tái phạm hoặc quay trở lại với ma tuý. Bắt buộc duy nhất với họ là những điêu kiện của toà án hay của Uỷ ban Ân xá và Tha bổng đã đặt ra cho sự tự do tạm thời của họ. Điểm chung trong các điều kiện là việc phải báo cáo ít nhất mỗi tháng một lần với Cán bộ Quản chế án treo và Ân xá, người có nhiệm vụ giám sát họ. Ngoài ra, cán bộ này còn có quyền đặt ra thêm điều kiện nếu thấy cần. Điều này là bởi vì chương trình quản chế án treo là một chương trình điều trị dựa trên cộng đồng được cá nhân hoá, nó cũng được áp dụng cho cả những người được ân xá và được tha bổng.

 

 

Sự cần thiết của CBCĐ đối với những người được hưởng án treo, ân xá và tha bổng:

Tính đến cuối năm 2001, thì tổng số người có án treo do PPA quản lý trên toàn quốc là 40.556 người, ân xá là 14.408 và tha bổng là 1.974, cộng tất cả lại là 56.938 người.

Việc giám sát ân xá và án treo liên quan đến các mặt kiểm soát và phục hồi. Thông qua việc giám sát, Cán bộ Quản chế án treo và ân xá có thể nắm được tình hình chấp hành các điều kiện và điều khoản có trong bản yêu cầu. Đây cũng là một quá trình giúp những đối tượng này trở thành những có ích và hữu ích của xã hội. Cán bộ Quản chế án treo và ân xá cũng xây dựng những chương trình, dự án cho họ phát triển kinh tế, xã hội, tinh thần và để phát triển các giá trị cho cuộc sống chính đáng.

 

Chữa bệnh Cộng đồng đã được PPA sẵn sàng chấp nhận, đặc biệt với đội ngũ lãnh đạo, từ cấp quản lý cao nhất đến các Giám đốc và Phó giám đốc các Khu vực, là những người đứng đầu khu vực đó. Họ đã thấy CBCĐ không chỉ là một chiến lược phục hồi, bằng cách theo một cách sống làm thay đổi suy nghĩ, cảm giác và hành vi của đối tượng. Tóm lại, họ thấy CBCĐ như một phương tiện sẽ hợp nhất tất cả các hoạt động và chương trình họ đang làm và chuyển cho chúng một động lực mạnh mẽ để thay đổi cuộc sống của bản thân đối tượng và gia đình.

Giáo dục

  • Đời sống xã hội, Đời sống gia đình và những kỹ năng giao tiếp
  • Nâng cao tinh thần
  • Chữa bệnh Cộng đồng như một lối sống
  • Môi trường Giáo dục
  • Giáo dục Công dân,
  • Đời sống Dân chủ & Khôi phục Công bằng
  • Củng cố Nhân cách & Sự tự nhận thức
  • Học hành, Nghề nghiệp & Kiếm sống

 

Các bước tiến hành Chữa bệnh Cộng đồng:

1.      Công tác chuẩn bị và tập huấn cho cán bộ, nhân viên:

1.      35 cán bộ gồm Giám đốc của 9 khu vực đã tham dự và hoàn thành xong khoá đào tạo dài 6 tuần gồm 6 môđun do Tổ chức Quốc tế Daytop tiến hành ở Manila từ tháng 5/1998 đến 8/1999.

Sau đó các cán bộ trên lại tiến hành các hội thảo chuyên đề ở tại khu vực của mình để phổ biến cho các cán bộ khác đã không thể tham dự tập huấn của Daytop

2.      57 cán bộ khác gồm cũng gồm cả các Giám đốc cung đã hoàn thành xong đợt tập huấn lần 2 cũng dài 6 tuần với 6 môđun cũng do Daytop International tiến hành. Cả 2 đợt tập huấn trên đều có sự tham gia của các cán bộ từ các cơ quan cai nghiện và cải tạo khác, và đều được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông qua đơn vị trực thuộc là Cục Thực thi Luật pháp và chống Ma tuý Quốc tế (INL).

Một lần nữa các hội thảo chuyên đề lại được tổ chức bởi những người đã qua đợt tập huấn lần 2 để phổ biến cho các đồng nghiệp của họ.

Có 5 cán bộ đã được đến tham quan các cơ sở CBCĐ ở New York trong khoảng từ 1999 – 2001, 2 người trong số họ là có đài thọ kinh phí.

Tính tất cả thì cho đến nay có 92 cán bộ của Cơ quan PPA đã được qua đào tạo tập huấn 6 tuần với 6 môđun của chương trình do cán bộ cuả Daytop giảng, và có 290 cán bộ được tập huấn chương trình 6 tuần 6 môđun qua hội thảo tập huấn.

2.      Lựa chọn đối tượng, chuẩn bị và định hướng:

Bước tiếp theo là việc lựa chọn đối tượng sẽ tham gia chương trình CBCĐ. Đối tượng được ưu tiên là nhóm nghiện ma tuý hoặc có liên quan đến ma tuý. Tuy nhiên, phải có sự giám sát ở mức cao nhất với các đối tượng này do họ có các vấn đề về hành vi. Các đối tượng tự nguyện tham gia sau phần định hướng, song cũng phải cẩn thận để nói là cũng có sự theo dõi tinh thần của họ.

3.      Thể chế hoá Chương trình CBCĐ:

1.      Thành lập Nhóm điều phố CBCĐ Nhà nước, và các Nhóm CBCĐ Khu vực.

2.      Tạo đà phát triển Chương trình CBCĐ cho năm 2002.

4.      Sự điều chỉnh Chương trình CBCĐ cho nhóm có án treo:

Do tính chất đặc biệt của nhóm đối tượng án treo nên cần phải có một số chỉnh sửa đối với chương trình

1.      Các buổi họp gặp mặt buổi sáng được tổ chức 1 lần/tuần hoặc 2 lần/tháng, hoặc 1lần/tháng, tuỳ thuộc vào khả năng của đối tượng có thể tham gia do các yêu càu như công việc, kinh phí đi lại, và và hoạt động khác của các cán bộ.

 

2.      Một số văn phòng có thực hiện chương trình CBCĐ cả ngày hoặc nửa ngày với các phần: Tiền họp mặt buổi sáng, sau đó là Buổi họp buổi sáng, sau nữa là các hoạt động chức năng, các hội thảo, cắt tóc nếu cần, đối thoại trong các nhóm...

3.      Cán bộ cho phép gặp mặt gia đình, người thân trong chương trình , lấy phản hồi của họ về những thay đổi về hành vi của đối tượng.

 

5.      Đánh giá hiệu quả của Chương trình:

Năm 2000, bộ câu hỏi điều tra được gửi tới các đối tượng và các cán bộ nhăm tìm hiểu 2 vấn đề:

(1)  Quan điểm và thái độ của các đối tượng và cán bộ đối với các công cụ của CBCĐ

(2)  Các đối tượng và cán bộ nhận thức như thế nào về hiệu quả của chương trình.

Có 356 người gồm án treo, ân xá và tha bổng, và 77 cán bộ quản chế ở 9 vùng đã trả lời bộ câu hỏi.

Kết quả điều tra cho thấy cả đối tượng và cán bộ đều có thái độ tích cực đối với các công cụ CBCĐ. Đối tượng rất thích các hội thảo và tư vấn cá nhân trong khi các cán bộ lại thích phần tư vấn cá nhân và phần họp buổi sáng.

Cả cán bộ và đối tượng đều thấy hiệu quả của CBCĐ nhưng với những lý do khác nhau. Đối tượng thấy nó hiêu quả trong việc nâng cao sự tự tin của họ, trong khi cán bộ lại thấy nó hiệu quả củng cố thói quen công việc.

 

Các vấn đề và thách thức khi tiến hành CBCĐ ở PPA:

1.      Thái độ tiêu cực của một vài cán bộ:

Điều này có thể chủ yếu là do sự thờ ơ. Một vài cán bộ có quan điểm sai là CBCĐ sẽ làm họ nặng gánh thêm nhiều công việc. Nhưng ngược lại, CBCĐ sẽ giúp cán bộ có thêm thời gian cho công việc, ví dụ như công việc điều tra. Do có các tập huấn và giúp đỡ liên tục của hàng ngũ lãnh đạo cấp cao nên vấn đề này cũng đang giảm dần.

2.      Sự thiếu cơ sở hạ tầng:

Đây là một vấn đề đối với nhiều cán bộ chương trình. Đơn giản là phòng để họ dùng cho các hoạt động CBCĐ, dù là loại được cấp hay đi thuê. Một số người đã thuê phòng, được chi trả từ các nguồn quỹ cá nhân.

Một vài cán bộ thì đi thương thảo với chính quyền địa phương hoặc những tổ chức tư nhân để nhờ địa điểm. Cũng có người đã phải dồn các đối tượng vào một nơi chật hẹp để làm việc. Có khi chưong trình phải tiến hành ở các hành lang thậm trí ở cả dưới bóng cây khi thời tiết cho phép. Song cũng có những trường hợp may mắn có được sự giúp đỡ từ chính quyền địa phương.

3. Sự tham gia không đều đặn cảu đối tượng:

ở hầu hết các cơ sở vẫn còn tồn tại việc đối tượng tham dự hôm nay nhưng lần sau lại vắng mặt. Nhiều trường hợp cũng có lý do đưa ra. Rất nhiêu các đối tưọng ở chỗ chúng tôi làm việc trên cơ sở lương ngày vì vậy nếu họ không làm việc ngày nào thì họ không được trả tiền ngày đó, tất nhiên họ sẽ không thể nuôi gia đình họ ngày hôm đó.

 

Kết luận:

Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng mới chỉ 3 năm tuổi ở Cơ quan PPA. ở những tháng cuối của năm 1999, mới chỉ có 9 vùng thực hiện Chương trình như một bộ phận chính của chương trình phục hồi. Đến nay, tất cả 15 vùng thuộc PPA đều đang tiến hành mô hình ở ít nhất là 50% các cơ sở của mỗi vùng.

Để nâng cao hơn nữa việc hoạt động của Chương trình CBCĐ ở Cơ quan chúng tôi, thì công tác nghiên cứu và đánh giá liên tục cần được coi như một bộ phận của Chương trình CBCĐ.

Ngoài ra cũng cần tổ chức tập huấn cho cán bộ về việc ứng dụng các công cụ CBCĐ cùng cơ sở khoa học và lý thuyết của các công cụ này để phát huy hiệu quả của các công cụ hơn nữa.

Với các vấn đề nêu trên, chúng tôi có thể tin tưỏng rằng, cùng với một ý chí chính trị vững vàng của hàng ngũ lãnh đạo quản lý, CBCĐ vẫn tồn tại với Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá.

 

SỬA LẠI KHÁI NIỆM CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG CHO PHÙ HỢP VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ Ở CHÂU Á

 

Aamir Shahzad

Tổ chức Những người Cơ đốc giáo chống lại ma tuý (ICAN)

Bối cảnh chung:

Mục đích của bài viết này là để khẳng định sức mạnh, khả năng đứng vững và giá trị của mô hình Chữa bệnh Cộng đồng trong việc phục hồi và cai nghiện ma tuý. Bài viết này kêu gọi sự quan tâm của những nhà làm chính sách và cung cấp dịch vụ đối với những bộ phận dân cư đặc biệt không được quan tâm ở Pakistan. Pakistan là một trong số các nước bị ma tuý tác động nặng nề nhất trên thế giới. Theo khảo sát điều tra của nhà nước về lạm dụng ma tuý, thì số lượng người nghiện heroin kinh niên đã tăng từ khoảng 20.000 người vào năm 1980 lên trên 1,5 triệu người vào cuối thập niên 1980. Kết quả của một cuộc khảo sát nhà nước cho thấy tổng số người nghiện ma tuý kinh niên đã đạt 3 triệu người vào năm 1993.

Vấn đề nghiện ma tuý không giới hạn ở một vùng nào của đất nước. Mối đe doạ này đã lan khắp toàn bộ lãnh thổ đất nước. Tương tự như vậy, nó cũng không giói hạn giới tính hay độ tuổi cụ thể nào. Đàn ông và đàn bà đều có thể trở thành nạn nhân, kể cả người lớn cũng như trẻ em.

ở đây ma tuý phần lớn được đưa vào qua đường miệng; heroin thường được hút theo kiểu hít khói. Hiện tượng tiêm heroin bắt đầu nổi lên ở một số vùng cụ thể. Hiện tượng này trước kia không hề có ở những vùng xa trung tâm, đô thị, thì nay đã thấy trong một số nghiên cứu gần đây, và nó dấy lên một nỗi lo ngại về nguy cơ cao của các bệnh truyền nhiễm qua đường máu như viêm gan và HIV/AIDS thông qua việc dùng chung kim tiêm.

Nghiên cứu cấp nhà nước gần đây do Liên hiệp quốc hỗ trợ về các nhóm lạm dụng ma tuý ở Pakistan đã cho ước lượng rất lớn về nghiện ma tuý là trẻ em đường phố. Một tỷ lệ lớn của trẻ em đường phố nghiện chất chết người này cũng có nghĩa là những kết quả chết người cho không chỉ với bọn trẻ, gia đình của chúng, mà cả với nền kinh tế của đất nước.

Lo ngại hơn cả là vấn đề lạm dụng ma tuý nay được bổ sung và đang mang thêm những loại hình mới ở đất nước này. Từ việc sử dụng ma tuý thuần tuý như trước đây là hầu hết chỉ hút và hít khói, thì nay ngày càng nhiều người nghiện chuyển sang tiêm chích, loại hình này đã được chú ý đặc biệt từ năm 1997. Số lượng gia tăng của người sử dụng heroin kinh niên đang chuyển sang tiêm một thứ kết hợp, pha trộn của những chất hợp pháp và bất hợp pháp.

 

Việc tiêm chích tổn thương các nạn nhân không chỉ do ảnh hưởng nghiêm trọng của chất ma tuý được đưa vào ngưòi mà còn đặt họ vào nguy cơ rất cao bị lây các bệnh truyền nhiễm chết người như HIV/AIDS, viêm gan B, và C. Với việc có nhiêu người nghiện ma tuý kinh niên cũng là những vị khách thường xuyên của “chợ tình”, đồng thời cũng có thể là những người hiến máu chuyên nghiệp, nên việc nghiện ma tuý của họ không chỉ là một thói quen chết người với họ mà còn cho cả xã hội.

 

Những nhóm dân cư đặc biệt ở Pakistan:

a.      Trẻ em đường phố

b.      Sử dụng ma tuý là phụ nữ

c.      Người sử dụng ma tuý có các bệnh về tâm thần

d.      Người sử dụng ma tuý với các bệnh truyền qua đường máu

e.      Người nghiện ma tuý ở trong các nhà tù

 

a.      Trẻ em đường phố:

Trong những năm gần đây có một số lượng lớn trẻ em đường phố xuất hiện ở các thành phố thành thị của Pakistan. Độ tuổi trung bình của chúng là từ 8 – 15 tuổi. Ngoài việc bị ảnh hưởng từ nhiều mặt xã hội và sức khoẻ, thì vấn đề lạm dụng ma tuý cũng đã xuất hiện ở một tỷ lệ lớn trong đám trẻ này. Những chất phổ biến nhất được bọn trẻ đường phố dùng là nhóm thuốc xông, ví dụ: chất keo hồ (glue), xăng dầu (gasoline) hoặc các chất hoá hoà tan, ảnh hưởng trí tuệ của các chất này là làm suy nhược hệ thần kinh trung ương. Một nghiên cứu gần đây về trẻ em đường phố do một tổ chức phi chính phủ ở địa phương tiến hành đã đưa ra ánh sáng những sự thật sau:

-   Tính cách điển hình của trẻ em đường phố là sự hoài nghi, nghi ngờ người khác, đặc biệt là với người lớn bởi bọn trẻ đã từng bị họ làm dụng về tinh thần, tiền bạc, và nhiều trường hợp là thể xác và tình dục.

-   Hầu hết trẻ là di cư đến từ những vùng nông thôn và lý do cho sự di chuyển này là có quan hệ trực tiếp tới sự đói nghèo và lạc hậu ở quê hương.

-   Nguồn thu nhập chủ yếu của hầu hết trẻ là lau kính ô tô và đi ăn xin. Các nguồn khác gồm: ăn cắp, móc túi và mại dâm.

-   Mức độ ý thức về lạm dụng ma tuý và các tác hại liên quan là rất thấp. Chúng không nhận thấy những rủi ro mà chúng đang tiếp cận.

Trên khắp Pakistan và đặc biệt là ở các thành phố thành thị có các trại trẻ mồ côi hoặc những nơi che chở do chính phủ hoặc các cơ quan phi chính phủ cung cấp song các sở này không đáp ứng được các nhu cầu cụ thể của trẻ có sử dụng ma tuý.

 

Vấn đề càng trầm trọng thêm khi mà các trung tâm này bị quá trật chội, đông đúc và không được cung cấp đủ kinh phí, mặt khác trẻ em cũng thiếu khả năng và điều kiện để tiếp cận những cơ sở này. Một vấn đề lớn khác nữa là việc bọn trẻ muốn thoát khỏi tất cả những khả năng có thể phải liên quan đến những tổ chức phi chính phủ hoặc cha mẹ chúng vì sống ở thành phố vui, thích thú hơn khi so với sự đói nghèo hay tình trạng bạo lực diễn ra ở nơi mà chúng đã phải bỏ đi.

 

b.      Sử dụng ma tuý là phụ nữ:

ở Pakistan, chưa hề có một bài tập nào được tập luyện cụ thể để giải quyết vấn đề phụ nữ lạm dụng ma tuý. Để nâng cao sự hiểu biết cho những phụ nữ có lạm dụng chất ma tuý, UNDCP đã tiến hành một nghiên cứu vào năm 1998. Nghiên cứu gồm 98 phụ nữ sử dụng ma tuý ở 2 thành phố thành thị, thì cho thấy gần 35% phụ nữ sử dụng heroin, 29% sử dụng chất hướng thần (tranqilizers), 18% dùng hashish (một loại thuốc lá chế bằng lá thuốc và đọt gai dầu), 12% dùng rượu cồn (alcohol) và 6% dùng thuốc phiện (opium). Người nghiện heroin gồm nhiều tầng lớp xã hội, dân trí khác nhau, từ người lao động có bằng cấp chuyên môn cao cho đến những phụ nữ thất học, mù chữ. Họ đến với heroin ở độ tuổi trung bình là 22 với chủ yếu là do bạn bè, chồng và người thân. Những áp lực và một cuộc sống căng thẳng thường được xem là nguyên nhân của việc lạm dụng heroin. Phần đông phụ nữ không đến điều trị, số liệu cho thấy rằng chỉ 3% người được điều trị là phụ nữ.

Chỉ có một vài chương trình điều trị được dành riêng cho phụ nữ nghiện ma tuý và hầu hết các chương trình này đều đang hoạt động trên cơ sở thương mại và cũng chỉ có một bộ phận trong xã hội là có thể tiếp cận được với chương trình. Hiện chỉ có một trung tâm CBCĐ cho phụ nữ nằm ở tại một trại tù nên nó rất nhỏ bé so với nhu cầu thực tế.

c.      Người sử dụng ma tuý có kèm với bệnh về tâm thần:

Người có chẩn đoán kép (ma tuý + bệnh tâm thần) gặp khó khăn đặc biệt trong cuộc sống. Có thể không đánh giá được hết mức độ khó khăn  phức tạp của họ. Những rối loạn do dùng các chất và các vấn đề về sức khoẻ tâm thần đều có thể không được nhìn nhận thấu đáo hết bởi các nhân viên y tế cơ sở. Nhân viên y tế về tâm thần có thể bỏ qua những vấn đề về ma tuý; nhân viên điều trị cai ma tuý thì lại có thể bỏ qua những vấn đề về tâm thần. Những người có rối loạn – xảy ra do đồng thời của cả ma tuý và tâm thần thì lại càng gặp nguy cơ cao bị tống giam, vô gia cư, nhiễm HIV và những tồi tệ khác hậu quả của những rối loạn. Người nghiện được điều trị ở các nơi chữa bệnh cộng đồng thường có một loạt các vấn đề tâm lý và xã hội. ở trường hợp của Pakistan thì hầu hết các dịch vụ cai nghiện thuộc nhà nước quản lý đều nằm ở các khoa tâm thần của các bệnh viện công, và với nhiệm vụ chính là cai nghiện, nó được xem như là một giải pháp chính cho số lượng gia tăng về người nghiện ma tuý.

 

d.      Người sử dụng ma tuý với các bệnh truyền qua đường máu:

HIV & HCV đều là một vấn đề lớn chung trên toàn cầu, đều là virút truyền qua đường máu. Điều quan trọng cần lưu ý là những loại virút này có thể lây lan thông qua hành vi có trao đổi máu hoặc các sản phẩm về máu. Hiện nay ở Pakistan, sự phổ biến của HIV/AIDS vẫn còn thấp, song tỷ lệ nhiễm HCV được xem là khá cáo. Chỉ tính các ca được báo cáo chính thức, thì theo Chương trình AIDS Quốc gia (năm 1988) HIV phổ biến là 0,06% trong dân chúng. Tỷ lệ thực sự nhiễm HIV chắc có thể cao hơn nhiều số liệu báo cáo chính thức. WHO và UNAIDS ước tính có từ 50.000 đến 80.000 ca HIV ở Pakistan. Khả năng xảy ra một đại dịch HIV là không thể lơi là ở đất nước này, khi mà vẫn đang tồn tại 1 số lượng khổng lồ người nghiện ma tuý và một khả năng rất lớn truyền nhiễm HIV vào dân chúng qua các giao tiếp trao đổi trong xã hội. Một hành vi mà chính nó lại là một rủi ro rất cao ở Pakistan chính là việc người dân rất ngại ngần khi nói về chủ đề HIV/AIDS. Trong vài năm qua đã có một số nỗ lực truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về đại dịch nguy hiểm này, tuy nhiên vẫn chưa đủ, cần phải trải rộng truyền thông hơn nữa đặc biệt là tới nhóm đối tượng có nguy cơ sắp bị nghiện. Hiện nay có sự thiếu số liệu đầy đủ trong đó có số liệu người nghiện ma tuý, mà một lý do chính là việc thiếu điều tra đầy đủ và công tác xét nghiệm. Tuy nhiện việc này hoàn toàn có thể làm được và chính con số thực tế đang xảy ra ở Pakistan sẽ là một dấu hiệu cảnh báo trước và được xem như một lời kêu gọi mọi người hành động.

 

e.      Người nghiện ma tuý ở nhà tù:

ở bất kỳ cơ sở nào trên khắp đất nước này, thì ở nhà tù là nơi có số lượng ngưòi nghiện ma tuý lớn nhất. Họ chiếm trong khoảng từ 20% đến 40% tổng số tù nhân trong tù. Số lượng lớn này được xem là gánh nặng cho hệ thống nhà tù bởi họ làm hạn chế bớt cơ sở và nguồn lực để giải quyết các tội phạm khác trong hệ thống hành pháp chống tội phạm. Hầu hết các tù nhân nghiện thuộc diện bị giam dài hạn. Trong thời gian bị giam giữ này họ được can thiệp hay nhận được các dịch vụ cực kỳ hạn hẹp, mà đáng lẽ thời gian này cần giúp đỡ họ nhìn nhận và thay đổi hành vi dùng ma tuý. Nên sau khi được thả khỏi tù hầu hết lại có xu hướng quay trở lại với ma tuý. ở một số trường hợp, gia đình người nghiện sau nhiều cố gắng với các cách điều trị khác nhau song không thành công cũng đành phải có chuẩn bị để đưa người nghiện đi giam giữ. Nhân viên tù cũng không có sự định hướng hay huấn luyện về mặt “phương pháp trừng phạt và cải tạo” được dành cho người nghiện ma tuý. Hiện nay, ngoại trừ một nhà tù, thì không có nhà tù nào có chương trình hoặc dịch vụ điều trị và phục hồi cho người nghiện ma tuý.

 

 

Sự thích ứng của phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng:

Kể từ khi bắt đầu như một phương pháp thực hành thay thế cho điều trị cai nghiện ma túy, phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng đã tạo ra sự thay đổi quan trọng trong phương pháp tiến hành và thành phần đội ngũ nhân viên. Bởi có sự thay đổi về nhận thức: Con người là trọng tâm chính chứ không phải ma tuý; những khủng hoảng trong cuộc sống hơn là việc chệch hướng trong lối sống; sự rối loạn toàn bộ chứ không phải riêng ở một phần cơ thể. Phương thuốc hợp lý là giải pháp căn nguyên cho các vấn đề về xã hội học, tâm lý học, thần học, triết học, sinh lý học, tinh thần cũng như các vấn đề về hành vi, tình dục. Hiện nay CBCĐ được công nhận là một mô hình điều trị toàn diện và mạnh mẽ. Mục tiêu cốt lõi của CBCĐ là tăng cường một lối sống lành mạnh và nhận biết những thay đổi không tốt trong hành vi cá nhân – về tình cảm, tâm lý, xã hội mà có thể dẫn tới việc sử dụng các chất. Quá trình ươm trồng rồi thích nghi dần của phương pháp CBCĐ ở Châu á không phải là một công việc dễ dàng bởi cũng đã có những thất bại trên con đường chinh phục để được công nhận là phương pháp điều trị đúng. CBCĐ qua thời gian tiến triển đã trở thành một phương pháp điều trị toàn diện, nó đã thích ứng với nhiều loại bệnh nhân, và cho một phạm vi dịch vụ rộng. Với kết quả từ sự thay đổi trong chính sách y tế và tài chính cho công tác điều trị, CBCĐ đã thích ứng với sự thay đổi về nhóm đối tượng của người nghiện ma túy, những người đang đồng thời bị cả 2 vấn đề về thể xác và tâm lý xã hội.

Lý do căn bản cho việc sử dụng CBCĐ:

Mô hình Chữa bệnh Cộng đồng đã trở thành một trong những mô hình nổi bật nhất đang được sử dụng cho việc điều trị và phục hồi người nghiện ma tuý. Nghiên cứu đã củng cố thêm hiệu quả của phương pháp này - điều trị cho người dân bình thường nói chung và cho cả những nhóm đối tượng như tội phạm, người nghiện bị đồng thời cả rối loạn ma tuý và tâm thần. CBCĐ đại diện phương pháp “gia đình chữa bệnh ” để phục hồi, một quá trình trao quyền cho đối tượng tự giác thực hiện. Khung lý thuyết của mô hình chương trình coi việc sử dụng ma tuý chỉ là một triệu chứng của một vấn đề lớn hơn rất nhiều, và trong phạm vi gia đình đó thì dùng một phương pháp điều trị lành mạnh sẽ có tác động lên mọi mặt đời sống của con người trong gia đình đó. Đối tượng trong mô hình điều trị được phân biệt theo mức độ sai chức năng về tâm lý và khiếm khuyết về mặt xã hội. Cộng đồng cung cấp môi trường để cho con người ngay ban đầu có thể phát triển trong đời họ lối sống hữu ích cho xã hội, và cũng là nơi giúp họ quay trở về lối sống lành mạnh cũ đã có mà có thể họ đã vứt bỏ đi.

 

Những thách thức:

Tính hiệu quả và khả năng phát triển của CBCĐ đối với điều trị cai nghiện đã khẳng định và đưa nó đến phục vụ cho những nhóm đối tượng đặc biệt của xã hội. Điều đó lại đặt ra một nhu cầu rất lớn về việc duy trì các cơ sở CBCĐ cho các nhóm đối tượng trên, những nhóm thuộc tầng lớp dưới ở Pakistan mặc dù cũng chỉ rất ít trong số họ là có thể đến và hưởng các dịch vụ mà thực tế các cơ sở này không cần thiết phải đặt cụ thể cho nhóm đối tượng. Hơn nữa, triết lý củng cố chất lượng cũng yêu cầu phải tiến hành một loạt các hoạt động giám sát và thu thập một cách liên tục. Mục đích của các hoạt động là tìm hiểu càng nhiều càng tốt về những vấn đề mà các đối tượng đang phải đối mặt, những dịch vụ mà họ nhận, chi phí của các dịch vụ đó, kết quả mà họ đạt được, và những nhân tố liên quan đến những kết quả tốt hoặc sấu đó. Những phát hiện này sẽ giúp Chính phủ và Nhà cung cấp dịch vụ điều chỉnh gói dịch vụ, thực hành lâm sàng, chuẩn bị tài chính và tổ chức, những nhu cầu về đào tạo, và các mặt khác của chương trình để phục vụ tốt hơn nữa cho đối tượng.

Đôi nét về Chữa bệnh Cộng đồng ICAN:

ICAN (Tổ chức Những người Cơ đốc giáo chống lại ma tuý) là một tổ chức trên cơ sở một nhà thờ có các dịch vụ điều trị và phục hồi cho nạn nhân sử dụng ma tuý. Là một tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận được thành lập để cung cấp các dịch vụ phục hồi và cai nghiện cho những người nghiện thuộc các khu ổ chuột. Kể từ khi thành lập năm 1988, ICAN đã liên tục cố gắng phấn đấu với một nỗ lực cao nhất trong việc phục hồi và điều trị cho người nghiện ma tuý. ICAN đã phục vụ cho rất nhiều người có các vấn đề về hành vi và tình trạng sức khoẻ rắc rối phức tạp, tự hào là đã không từ chối với thậm trí cả những ca khó khăn nhất. Kết quả là ICAN đã nổi bật lên thông qua công việc điều trị và phục hồi của tổ chức với những người mà các tổ chức khác đã bó tay.

Phương châm đi đến thành công của ICAN trong việc cung cấp dịch vụ cho cộng đồng trong lĩnh vực phục hồi và cai nghiện là thông qua tình yêu và giúp đỡ trong khi phải luôn duy trì sự cảm thông và trách nhiệm với các nhu cầu của con người. Chúng tôi đã được cam kết với một bộ cân bằng các hành động và hỗ trợ, và do vậy có cả những giá trị và việc tìm giá trị của từng cá nhân về các mặt tăng cường kỹ năng, cơ hội, kiến thức và phát triển con người.

 

 

Các mốc sự kiện của ICAN

Năm

Huy động Cộng đồng

1988

Các chương trình tăng cường nhận thức & giáo dục phòng ngừa

1991

Cai nghiện dựa trên cơ sở Gia đình/ Cộng đồng

1992

Ra đời Trung tâm Daycare

1993

Kết hợp với Chương trình Gia đình

1993

Thành lập Cơ sở CBCĐ với 30 giường cho việc phục hồi người nghiện ma tuý

1996

Mở thêm Dịch vụ giảm bớt thiệt hại & sự đòi hỏi ma tuý cho người nghiện ma tuý đường phố

1997

Tăng cường nhận thức & phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng

1998

Hướng dẫn nghề nghiệp & bố trí việc làm

2001

 

 

Số liệu điều trị năm 2001

 

Đối tượng được cai nghiện:                                                307

Đối tượng được khám bệnh:                                   307

Tổng số được tham gia phục hồi:                           160

Số đối tượng hoàn thành phục hồi:                                     73

Số đối tượng bỏ dở điều trị:                                                  75

Số đối tượng bị đuổi:                                                 11

Số đối tượng duy trì phục hồi:                                 57

 

CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG Ở CÁC CƠ SỞ NHÀ TÙ CỦA PHILIPPINE

 

BS. Irene S. Lim

Cục Hình phạt và Quản lý Nhà tù

Cục Hình phạt và Quản lý Nhà tù của Philippines được thành lập năm 1991 theo Đạo luật Công cộng 6975. Cục trực thuộc Bộ Nội vụ và Chính quyền địa phương. Cục quản lý những phạm nhân đang chờ xét xử và những người bị kết án từ 3 năm trở xuống. Hiện nay Cục có các cơ sở hành pháp hoạt động ở trên 134 nhà tù của quận, 84 nhà tù của thành phố và 1.014 nhà tù thuộc cấp thành phố, với tổng số 39.434 tù nhân. 91% trong số tù nhân này là thuộc diện bị tạm giam giữ, 9% còn lại là tù nhân đã bị tuyên án.

Kể từ khi đi vào hoạt động Cục vẫn kiên định theo mục tiêu tăng cường an toàn xã hội, nâng cao tiến bộ chăm sóc cho tù nhân, nâng cao phát triển và đổi mới. Cục có một niềm tin chắc chắn rằng nhà tù tồn tại không chỉ là nơi để trừng phạt và trừng trị mà còn là nơi để biến đổi và phát triển. Tuy nhiên, với nhiều cố gắng trong công tác phục hồi song Cục vẫn chưa hoàn thành các mục tiêu, chủ yếu là do chưa có sự can thiệp cụ thể cho người nghiện; số lượng vào trại và ra trại chưa được đo đếm đầy đủ; một số hoạt động không thực tiễn; tính hợp thời không được xem xét nhiều; sự phục hồi mới chỉ tồn tại trên danh nghĩa và trên lý thuyết chứ còn thực chất và tính thực tế của nó vẫn còn bị hoài nghi.

Các chương trình về hướng nghiệp, giáo dục, tâm hồn được giới thiệu nhưng còn nhiều hạn chế. Các nỗ lực chủ yếu là hướng tới việc củng cố kỹ năng nghề cho tù nhân, tránh cho họ khỏi sự buồn chán và bạo lực trong thời gian ở tù. Các chương trình này chưa bao giờ được đánh giá về tính ứng dụng và tính hiệu quả của chúng. Thiếu sự quan tâm tới các chương trình hoạt động đã ảnh hưởng tới mục tiêu làm thay đổi cách tù nhân suy nghĩ, cảm nhận và hành động. Đây là lý do tại sao phạm nhân ma tuý có xu hướng tái nghiện sau khi được thả ra tù.

Vào năm 1998, Chữa bệnh Cộng đồng được giới thiệu với Cục Nhà tù thông qua Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá, Cơ quan Thực thi Luật pháp và chống Ma túy Quốc tế và Tổ chức Daytop Int., Hoa kỳ. Phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng đã được thử nghiệm ở Mỹ trong vài thập kỷ, đã mang lại một sinh khí mới cho công tác phục hồi của Cục. Chương trình này đã tạo ra một môi trường cho phép con người lấy lại sự tự tin và xây dựng lòng tin với người khác. Sự căng thẳng và những xung đột được giải quyết với một tính cách xây dựng. Tù nhân được học cách bày

 

tỏ, diễn đạt theo những chuẩn mực của xã hội, không còn sự hung hăng và thù địch. Họ có cơ hội để khám phá tiềm năng và khả năng của bản thân. Việc triển khai chương trình là hợp thời, vì theo các số liệu gần đây nhất cho thấy 50 - 60% tù nhân là diện ma tuý và có liên quan ma tuý. Cũng cùng trong năm đó Cục Nhà tù đã gửi 14 nhân viên có đủ năng lực đi đào tạo 14 tuần về CBCĐ dưới sự giảng dạy của Tổ chức Daytop, Hoa Kỳ. Mặc dù đã có được nhóm nhân viên được đào tạo trong đợt đầu tiên này thì chương trình được triển khai lần đầu tiên ở nhà tù của Thành phố Manila cũng đã không thành công vì các lý do này khác.

Chữa bệnh Cộng đồng đã không dễ ràng được triển khai và thực hiện ở cơ sở nhà tù. Đã có sự phản đối của cả nhân viên và tù nhân. Với nhân viên, nhiều người vẫn bám lấy quan niệm cũ là việc tống giam và quản lý chặt luôn có tác dụng hơn việc phục hồi vì chương trình có thể gây rủi ro về an ninh. Nhiều người khác lại thấy là chương trình quá phức tạp để có thể nắm bắt và làm theo. Vẫn còn nhiều người nghi ngờ về tính hiệu quả của chương trình. Với tù nhân đã quen với cuộc sống lười nhác, nhàn rỗi thì nhiều người chống lại bất kỳ một hình thức đổi mới hay cuộc sống có tổ chức. Nhiều người trong số họ đã có hành động gây gổ chỉ để loại mình ra khỏi chương trình. Làm trầm trọng thêm tình hình là sự thiếu thốn về cơ sở hạ tầng. Đến thời điểm đó có đến 40% các nhà tù đang trong tình trạng trật trội. Cũng chính vì lý do này mà chỉ có một số nhà tù được chọn để triển khai CBCĐ.

Tổng hợp các vấn đề và mọi thứ thì chung quy lại là vấn đề kinh tế, với những phát sinh mới phức tạp. Trong khối kinh phí lớn cho hoạt động, thì kính phí cho bữa ăn của tù nhân là chiếm phần lớn, phần kinh phí còn lại mới dành cho các hoạt động khác trong đó có hoạt động phục hồi. Trong khuôn khổ thực thi tiết kiệm của chính phủ, ngân sách của Cục đã bị cắt bớt 20% trong khi số lượng tù nhân lại tăng thêm 9,4%. Các nhân tố này rõ ràng đã ảnh hưởng song đã không thể làm nhụt trí của những người tiến hành chương trình.

Đầu năm nay, nỗ lực làm sống lại chương trình đã được châm ngòi bởi nhóm nòng cốt gồm những nhân viên đã được tập huấn CBCĐ. Với việc tiến hành chậm hơn các cơ quan khác cộng với sự gia tăng đáng báo động của các trường hợp liên quan đến ma tuý, nên đã buộc Cục huy động nhân lực và vật lực để triển khai chương trình. Đầu tiên là việc tổ chức Hội thảo chuyên đề 5 ngày cho các cán bộ dự kiến sẽ tiến hành chương trình. 35 người từ các khu thí điểm đã tham dự. Ngoài ra để đảm bảo chương trình được thực hiện ở những nơi đã được chọn, một cán bộ cấp cao được giao quản lý và giám sát việc triển khai chương trình ở nhà tù đó.

 

Tháng 3/2002 chương trình CBCĐ đầu tiên được bắt đầu ở Trung tâm Phục hồi Thành phố Lucena ở Khu vực 4. Chương trình được tiến hành bởi những cán bộ đã dự hội thảo chuyên đề vừa mới được tổ chức (lần 2). Nhận thấy có sự liên quan của chương trình trong việc hình thành hành vi của tù nhân, các nhà tù khác đã học tập làm theo. Với đội ngũ nhân viên đã thạo việc và đủ về số lượng, Cục Nhà tù đã triển khai Chữa bệnh Cộng đồng ở 6 cơ sở nhà tù là: Nhà tù thành phố Marikina, Nhà tù thành phố Mandaluyong, Khu trại giam Nữ giới thành phố Quezon, Trung tâm phục hồi Manila, 4 nơi này đều thuộc thủ phủ Manila, Trung tâm phục hồi thành phố Lucena ở Khu vực 4; Nhà tù thành phố Ormoc ở Khu vực 8. Các cơ sở trên được chọn là do có mức trật trội thấp nhất và có cơ sở vật chất tốt nhất trong số các nhà tù. Hiện có thêm một số nhà tù đang được xem xét về khả năng triển khai CBCĐ. Tính tất cả lại thì hiện có khoảng 120 tù nhân đang được hưởng lợi từ chương trình này. Trong số 6 cơ sở trên thì có bốn cơ sở là dành cho nữ giới, một dành cho nam giới, và một cơ sở là chung, có cả nam và nữ. CBCĐ trong nhà tù có tất cả các hoạt động từ Họp mặt buổi sáng, các hội thảo, tư vấn, hoạt động tín ngưỡng, hoạt động nghề nghiệp/ kiếm sống và các công cụ hình thành hành vi. Kế hoạch ban đầu, như một phần của quá trình thử nghiệm nên chỉ bao gồm những tù nhân đã được kết án để chúng tôi có thể kiểm soát tốt hơn việc ở lại điều trị của họ. Tuy nhiên, với một số ít tù nhân này, thì chúng tôi có cho phép một số trường hợp có liên quan đến ma tuý được tham gia chương trình trên cơ sở tự nguyện.

Động lực thúc đẩy chính của Cục hiện nay là sự cam kết hỗ trợ đầy đủ cho chương trình của cơ quan quản lý. Động lực khác là lòng nhiệt tình của những người đang tiến hành chương trình bất kể những khó khăn và áp lực vây quanh. Nhiều tổ chức tôn giáo và phi chính phủ cũng đang không ngừng hỗ trợ cho chương trình. Hiện tại, việc thúc đẩy tù nhân là tương đối dễ bởi họ đã thể hiện được niềm tin và sự tin tưởng đối với nhân viên tù. Tù nhân luôn được thúc đẩy để thấm dần vào họ một ý thức tự quản và có trách nhiệm. Được định hướng và giải thích đầy đủ về lợi ích của chương trình, cả nhân viên và tù nhân dần dần đã cảm nhận sự sắc đáng của chương trình và bắt đầu hoà nhập vào chương trình.

Hiện nay, công tác CBCĐ đang hoạt động trôi chảy ngoại trừ lác đác vài tù nhân được tại ngoại do được tha bổng, bảo lãnh, ân xá, hoặc chuyển đi do kết án. Với những trường hợp bị kết án đó thì phải chuyển đến cấp quản lý cao hơn là Cục Trừng phạt và Cải tạo. Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá quản lý những trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn được ân xá. Một mạng lưới được hình thành với chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ và Bộ Phát triển & Xã hội (DSWD) để giải quyết cho các trường hợp được bảo lãnh hoặc tha bổng. Những nỗ lực này cũng là để đảm bảo tính liên tục của chương trình.

 

Kế hoạch cho tương lai bao gồm việc tổ chức các hội thảo chuyên đề ở các khu vực và việc mở CBCĐ ở các cơ sở nhà tù. Khái niệm điều trị trong Chữa bệnh Cộng đồng đang được phát triển và sẽ được kết hợp với Chương trình Hướng dẫn về đào tạo bắt buộc cho nhân viên tù một khi nó được phê duyệt. Việc này nhằm tăng cường nhận thức của nhân viên và giảm sự phản đối đối với chương trình. Kế hoạch về dự thảo bản Hướng dẫn Thực hiện chương trình CBCĐ sẽ được triển khai nhằm đạt được sự đồng bộ và tính liên tục khi thực hiện. Sự phối hợp đồng bộ với các cơ quan chức năng cũng sẽ được thực hiện.

Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng là một dự án tương đối mới ở các cơ sở nhà tù Philippine, mới chỉ bắt đầu 4 tháng trước đây nên kết quả và hiệu quả của nó lúc này chưa thể đánh giá đầy đủ được. Nhưng chúng tôi rất hy vọng là những nỗ lực của chúng tôi sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp và các tù nhân sẽ phát triển thành những cá nhân năng nổ, biến đổi họ thành những công dân hữu ích, không ma tuý của xã hội. Với việc gần đây nhất là đưa chương trình CBCĐ vào Kế hoạch Hành động và Ngân sách của BJMP cho năm tài chính 2002, thì hy vọng của chúng tôi là hoàn toàn có cơ sở. Trước tất cả những thách thức mà những người tiến hành chương trình phải đối mặt thì cần khắc sâu phương châm hành động:

 

“Cái giá của sự thành công là sự chăm chỉ trong công việc, tận tuỵ, hiến dâng hết khả năng và ý trí cho dù có thành công hay không, và chúng tôi đã dùng hết khả năng cao nhất đó cho nhiệm vụ được giao”.

 

Đang xem 430

Hôm nay 330

Tổng lượt xem 15,228,711