THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

Hội thảo I

Cộng đồng trị liệu trong khung trừng phạt

Ngày 19 tháng 08 năm 2002

 

 

 

Chủ tịch                       : Atty. Gregorio Bacalod                    (Philippin)

Những người phát biểu  :

  • Mr. Nathee Chitsawang                            (Thái Lan)
  • Mr. Amir Shariffuddin bin Abd Majid       (Malaysia)
  • Dr. Edilinda Patac                                      (Philippin)
  •    Mr. S. P. Rajenthiran                       (Malaysia)

Người báo cáo              : Mr. Thavanmany Gopal                            (Malaysia)

 

Tóm tắt trình bày nguồn nhân lực

1.     Từ kinh nghiệm của các nhà tù Thái Lan, phương thức TC không thể được thi hành có hiệu quả trong khung nhà tù khi phương thức TC chỉ là một phương thức điều trị trong nhiều phương thức khác được thi hành trong nhà tù. Phương thức TC được thi hành trong các nhà tù bởi vì mâu thuẫn giữa an ninh và các nhân viên TC. Có 77 nhà tù với 20- 40 cư dân trong mỗi chương trình TC. Mặc dù các vấn đề trước mắt, Bộ trừng phạt Thái Lan đã thiết lập một vài trung tâm nhà tù TC, hoạt động dưới mô hình Chăm sóc.

2.     Trong năm 1992, chương trình TC dựa trên Nhà tù Malaysia đã đi vào hoạt động. Kể từ sau đó 12 nhà tù đã làm theo phương thức TC. Tổng số 1,025 cư dân đã được phóng thích. Ngoài số 803 người nghiện cũ này vẫn thoát khỏi ma túy, 204 người đã tái nghiện, 15 người dưới sự giám sát cảnh sát và 3 người đã tử vong. Tỷ lệ thành công là 72.35% trong chương trình TC này.

Hiện thời, một vài lượng giá đã được chỉ đạo, sử dụng các cư dân TC dựa vào Nhà tù làm những người trả lời. Chính Nhà tù Jelebu đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu cho các sinh viên đại học và nhân viên nhà tù đặc biệt những người khác từ Malaysia và Brunei Darussalam.

3.  Trung tâm TC đầu tiên được thành lập ở Philippin, ở trong Nhà tù Quốc gia.

    Hệ thống trừng phạt ở Philippin gồm 6 cơ quan trực thuộc 3 bộ hành pháp riêng biệt và riêng rẽ của Chính phủ quốc gia đó là:

1.     Bộ Tư pháp- Trực thuộc Bộ này có Cục Trừng phạt và Cải tạo, Văn phòng Quản chế án treo và Ân xá, và Ban Tha bổng và Ân xá.

2.     Bộ Nội vụ và Chính quyền địa phương- Trực thuộc Bộ này gồm những Nhà tù cấp tỉnh do chính quyền tỉnh đó quản lý và Cục Quản lý nhà tù, quản lý các nhà tù cấp thành phố và cấp quận.

3.     Bộ Phát triển và Phúc lợi xã hội: Trực thuộc có Cục Chăm sóc Trẻ em và Thanh thiếu niên, có nhiệm vụ quản lý các trung tâm phục hồi thanh thiếu niên.

Như tháng 12 năm 2001, có 23,965 tù nhân trong 7 cơ quan trừng phạt đang hoạt động. Trong năm 1998, việc thi hành Quản chế án treo và ân xá của Bộ tư pháp đã đưa ra các bước đầu để làm theo các chương trình TC.

4. Kinh nghiệm của PERSADA. PERSADA là một trong 28 trung tâm phục hồi ở Malaysia. PERSADA là trung tâm phục hồi ma túy chính phủ đầu tiên ở Malaysia thi hành phương thức TC. Phương thức TC được thi hành vào ngày 01 tháng 03 năm 1999, với sự giúp đỡ từ DAYTOP và Bộ nhà tù Malaysia.Vào năm 1999, 3 nhân viên đã được gửi tới DAYTOP cho 6 tháng đào tạo. Họ cũng đã thu được sự chỉ dẫn từ 2 người nghiện cũ mà đã hoàn thành chương trình TC trong nhà tù. Lời cam kết và những nỗ lực tiếp tục đã được đưa ra bởi nhân viên và các tù nhân, là nhân tố chính cho sự thi hành thành công của chương trình TC. Các tù nhân đã cho thấy những thay đổi tích cực trong thái độ và lòng tự trọng của họ. Kể từ sau đó 5 trung tâm phục hồi ma túy khác đã làm theo phương thức TC.

Các vấn đề đã thảo luận

1.     Thiếu sự trợ giúp ngân sách trong việc thi hành các chương trình TC với nhà tù và các tù nhân trừng phạt;

2.     Nhà tù và các thành viên nhân viên trừng phạt được phân công để quản lý chương trình TC không được chọn lựa tốt bởi các chính quyền nhà tù có liên quan;

3.     Nhà tù và các thành viên nhân viên trừng phạt đang thi hành chương trình TC không được đào tạo đầy đủ về phương thức TC; và

4.     Hình như thiếu các hướng dẫn mẫu tiêu chuẩn trong việc chương trình TC sẽ được thi hành giữa các tù nhân như thế nào.  

Các đề xuất

1.     Một giải pháp sẽ được đệ trình bởi AFTC lần thứ 5 tới tất cả các chính phủ châu á đề nghị rõ ràng rằng chính phủ sẽ cung cấp sự trợ giúp ngân sách đầy đủ cho Bộ trừng phạt hoặc các nhà tù tương ứng trong việc thi hành chương trình TC với nhà tù và các tù nhân trừng phạt.

2.     Một giải pháp sẽ được đệ trình bởi AFTC lần thứ 5 tới tất cả các chính quyền nhà tù có liên quan của tất cả quốc gia châu á để nghị rằng họ thực hiện sự suy xét hết sức khôn ngoan trong việc lựa chọn và giúp đỡ nhà tù và cán bộ nhân viên trừng phạt là những người sẽ thi hành chương trình TC.

3.     Một giải pháp đề nghị Văn phòng ma túy quốc tế và Vụ thi hành Luật (INL), Bộ ngoại giao Mỹ thông qua DAYTOP quốc tế Inc., New York, cung cấp một số trợ cấp tài chính cho nhà tù và các chính quyền trừng phạt ở Châu á và sẽ thi hành các chương trình TC.

4.     Một giải pháp đề nghị DAYTOP quốc tế, Inc. xây dựng một trung tâm đào tạo TC khu vực châu á được đặt vị trí ở một trong các quốc gia châu á, có thể ở Manila, Philippin.

5.     Một giải pháp đề nghị DAYTOP quốc tế, Inc. với sự trợ giúp quỹ của INL, Bộ ngoại giao Mỹ, gây tín nhiệm và đánh giá các chương trình TC đang được thi hành trong nhà tù và các hệ thống trừng phạt của các quốc gia châu á.

 

Liệu pháp cộng đồng trị liệu: Một con đường phục hồi có hiệu quả cho các dân cư nhà tù Malaysia

Amir Shariffuddin ABD Majid

Cơ quan phục hồi ma túy

 
 

          Các cộng đồng trị liệu cho người lạm dụng chất đã xuất hiện một thập kỷ, muộn hơn các cộng đồng trị liệu cho các bệnh tâm thần, đã được mở đường bởi Jones và những người khác ở nước Anh. Hai mô hình đã đưa ra những sự khác nhau phản ánh độc lập ngang nhau về triết lý, tổ chức xã hội, các khách hàng được đáp ứng, và các quá trình trị liệu của chúng. Nổi bật trong những năm 1960 như là một con đường giúp đỡ bản thân, tồn tại các liệu pháp thông thường. Không được giúp đỡ bởi các tổ chức y tế và trừng phạt, những người nghiện rượu và những người nghiện ma túy đã khỏi bệnh là những người phát triển- tham gia đầu tiên.-(Goerge De Leon).

          Phương thức cộng đồng trị liệu ở các nhà tù Malaysia đã hoạt động từ năm 1993 như là một sự lựa chọn để tồn tại liệu pháp thông thường. Phương thức này đã đáp lại xu hướng thay đổi trong các kiểu sử dụng ma túy, các khách hàng đang điều trị với các vấn đề ma túy dữ dội khác nhau, các lối sống khác nhau và các bối cảnh xã hội, kinh tế và tôn giáo khác nhau. Từ khi khởi đầu, TC dựa trên nhà tù (MPBTC) đã giữ vững các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cao của trách nhiệm và các hoạt động chương trình.

          TC dựa trên nhà tù không dễ dàng cho những người khác để điều trị. Trong nhiều cách, nó là vấn đề khắc nghiệt nhất họ đã từng làm trong cuộc sống của họ sau nhiều năm đau đớn, ngờ vực bản thân và tuyệt vọng. Đa số họ bị lôi kéo, bị dính líu trong các hoạt động tội ác phức tạp. Quản lý PBTC khó khăn hơn nhiều khi so sánh với các chương trình TC không dựa trên nhà tù.

          Một số khó khăn gây trở ngại cho việc áp dụng phổ biến nhiều hơn nữa của liệu pháp Cộng đồng trị liệu trong các nhà tù là có liên quan tới sự phức tạp của các quy trình quản lý của nó. Lipton, Falkin và Wexler (1992) phát biểu rằng trong 30 chương trình Cộng đồng trị liệu dựa trên nhà tù đã được thành lập suốt những năm 1970 ở Mỹ, thì chỉ có 13 tiếp tục hoạt động. Những lý do nói rõ cho sự kết thúc bao gồm các vấn đề có liên quan tới bố trí cán bộ nhân viên, sự cai quản nhà tù, sự dồn vào quá đông, các sự cắt giảm ngân sách và xung đột xã hội.

          MPBTC gặp phải các khó khăn giống nhau trong việc thi hành các hoạt động của nó. Tuy nhiên, không có gì là tĩnh lặng nhưng có thể được giải quyết thông qua công việc hà khắc và lời cam kết đầy đủ nhất của nhân viên nhà tù. Vào cuối những năm 1990, Bộ nhà tù Malaysia đã giới thiệu 2 phương thức khác như là con đường tới chương trình TC có tên là Hallakah ( con đường đạo Hồi) và Mentor- Mentee. Điều này cung cấp cho những tù nhân nhiều hướng hơn để đi tới con đường thích hợp với các nhu cầu của riêng họ.

          Tổ chức chương trình và quá trình điều trị

          Các nhà tù tiểu văn hóa và các giá trị tiêu cực khác trong suốt các giai đoạn trước điều trị luôn trở thành một vấn đề chính giữa các cư dân ít thâm niên hơn. Giai đoạn tiếp nhận là giai đoạn quyết định nhất và MPBTC luôn thấy trước một số người trong số họ sẽ tách ra.

          MPBTC có thể bị phân biệt với các phương thức điều trị ma túy chủ yếu khác như biện pháp bổ sung (thông thường), hallakah, và hệ thống mentor-mentee trong hai cách chủ yếu. Thứ nhất, các cố vấn đầu tiên trong cộng đồng trị liệu mà bản thân nó là cộng đồng, bao gồm những người ngang hàng và nhân viên như là những người gương mẫu có vai trò trong việc thay đổi con người thành công trong quá trình chữa khỏi bệnh. Thứ hai, không giống như các phương thức khác, các cộng đồng trị liệu đưa ra giải pháp có hệ thống để đạt tới mục đích phục hồi cao. Các mục đích MPBTC có thể được tóm tắt như sau:

1.     Cung cấp một chương trình điều trị tại nơi cư trú dài hạn cho việc thoát khỏi ma túy và lối sống sản xuất.

2.     Sử dụng người cùng địa vị xã hội/ sự trợ giúp " dựa trên gia đình" và xem xét quá trình trong sự phối hợp với một chương trình điều trị chuyên nghiệp sẵn có.

3.     Đạt tới sự giảm bớt thiệt hại có liên quan......................

4.     Đẩy mạnh và khuyến khích việc kiêng ma tuý và để ý đến lối sống hay thay đổi (lối sống tích cực và lối sống sản xuất) giữa những tù nhân đang trải qua chương trình lạm dụng ma túy.

Sự phục hồi trong TC mở ra như là một quá trình phát triển đang xảy ra trong phạm vi hiểu biết xã hội. Các chỉ tiêu và các giá trị, các thái độ, các xúc cảm và sự hiểu biết (sâu sắc) về nhận thức là quan trọng bậc nhất và phải được giải quyết sao cho phù hợp. Bản thân sự phát triển của nó có thể được hiểu như là một sự đi qua, qua một vài giai đoạn của hiểu biết lớn lên.

Quá trình phát triển tự nó được chia ra làm 4 giai đoạn chủ yếu của hiểu biết lớn lên mà mỗi giai đoạn của nó sẵn sàng cho thay đổi tại giai đoạn tiếp sau và mỗi sự thay đổi lại làm tăng thêm sự trưởng thành và sự tự quản cá nhân. Các giai đoạn như sau:

1.     Giai đoạn trước tiếp nhận          - 0 đến 30 ngày

¬  Như là một "Trại trong sạch" nơi mà các cư dân tiềm năng được lựa chọn. Các hội nghị trước phỏng vấn thỉnh thoảng được thực hiện ở đây khi các tù nhân được chuyển đến bởi tòa án hoặc các cơ sở nhà tù khác.

2.     Giai đoạn tiếp nhận                    - 1 đến 2 tháng

¬  Đánh giá các nhu cầu cá nhân và định hướng tới TC và các luật lệ và các quy định nhà tù. 

3.     Giai đoạn điều trị cốt lõi             - 9 đến 12 tháng

¬  Xã hội hóa và phát triển cá nhân thông qua tất cả việc điều trị và các hoạt động cộng đồng. Sự có mặt và tham gia là bắt buộc.

4.     Giai đoạn trước tái tiếp nhận              - 2 đến 3 tháng

¬  Các cư dân tiếp tục sống trong chương trình TC; đi làm việc (đào tạo hướng nghiệp, tham dự các lớp học lý thuyết xa hơn. v.v...), nhưng tham gia ít hơn trong chương trình như trong các giai đoạn trước.

¬  Thấy trước mức độ đủ chất lượng lãnh đạo quản lý bản thân và ra quyết định.

¬  Mong đợi không có nhiều nhóm gặp gỡ và kiểu đối đầu khác của các hội nghị.

   ** Tuy nhiên, nếu một cư dân phạm phải một số vi phạm nội quy (thuộc các quy định nhà tù 2000 hoặc các luật lệ chủ yếu TC); việc điều trị của người đó trong TC sẽ tự động bị lùi lại" một ngày" -có nghĩa người đó sẽ bị xuống tới giai đoạn điều trị cốt lõi cho lần thứ 2.

¬  Sự thích nghi của phương thức cộng đồng trị liệu

Như đã đề cập sớm hơn, thật không dễ dàng cho những người đó trong điều trị. Những người nghiện ma túy quen với những việc phải làm của riêng họ trong cuộc sống hàng ngày của họ. Trở thành một cư dân trong chương trình MPBTC đòi hỏi sự tự nguyện và sẵn sàng xem xét sự thay đổi các thói quen phi sản xuất và các thái độ tiêu cực trong quá khứ. Tuy nhiên, những sự động viên sẽ được mang đến cho họ để họ cảm thấy thoải mái hơn với không khí khắt khe và thách thức trong TC.

Các công cụ điều trị được sử dụng trong MPBTC tương tự như các cơ sở TC khác. Các công cụ / yếu tố chủ yếu của chương trình bao gồm các nhóm gặp gỡ, các nhóm tĩnh, sự đương đầu với người cùng địa vị xã hội, các hội nghị khiển trách bằng lời nói, hướng dẫn từng người một, các hội nghị hiểu biết sức khỏe cho cư dân nhiễm HIV và bệnh viêm gan bao gồm bài kiểm tra trước và sau, lời hướng dẫn, các hội nghị chuyên đề (kỹ năng sống- các hội nghị phát triển), các nhiệm vụ công việc tại nơi cư trú, v.v...

Tuy nhiên, nhóm gặp gỡ và hội nghị nghệ thuật các cảm xúc đã trở thành trung tâm của quá trình phục hồi và đã mang đến sự tiến bộ to lớn trong tổ chức chế độ hàng ngày. Sau một vài năm, MPBTC đã khám phá ra rằng một số thích nghi được tạo thành để phù hợp với các nhu cầu của chúng ta và các nền đa văn hóa.

 

Sự áp dụng mô hình cộng đồng trị liệu cho những người nghiện ma túy và các phạm trù khác của các cư dân

¬  Các công cụ điều trị khác

Thành phần có ý nghĩa khác của chương trình TC của chúng ta là sự giới thiệu các hoạt động tôn giáo như là một phần và bộ phận của" các công cụ của Trại". Sự có mặt trong một số hoạt động tôn giáo là bát buộc với tất cả cư dân trong suốt các giai đoạn điều trị toàn bộ của họ. Việc không thực hiện như thế sẽ được xem xét và là chủ đề cho việc giữ chỗ trước.

Điều 122 (d) của các quy định nhà tù đã được nằm trong "các điều lệ chủ yếu" PMBTC, mà được phát biểu là "có sở hữu một số đồ vật trái phép" như là sự vi phạm nhỏ nội quy nhà tù. Đồ vật bao gồm các loại ma túy, thuốc lá, điếu thuốc lá, rượu cồn, tiền mặt, v.v... Một sĩ quan chỉ huy có thể trừng phạt bất cứ tù nhân/ cư dân, sau khi thẩm tra thích đáng tìm thấy phạm một nội quy nhỏ nhà tù, bằng cách ra lệnh cho người đó chịu một hoặc nhiều hình phạt hơn như được quy định bởi điều 124 của Các quy định nhà tù 2000.

Nếu cư dân TC phạm phải sự vi phạm nội quy, điều trị của người đó trong TC sẽ tự động được kết thúc, trừ khi với lý do đặc biệt và sự chấp thuận từ người quản lý chương trình.

¬  Sự sửa đổi cảm xúc, suy nghĩ và cách cư xử

    (Các thủ tục R.E.T. trong biện pháp MPBTC)

          MPBTC nhìn thấy việc lạm dụng ma túy như là sự ứng xử lệch lạc, phản ánh sự phát triển nhân cách bị cản trở và thiếu hụt các kỹ năng xã hội, giáo dục và kinh tế. Vì vậy, lạm dụng chất là một rối loạn trong toàn bộ con người. Thói nghiện là một triệu chứng, không phải bản chất của một rối loạn. Vấn đề không phải do ma túy nhưng do con người.

          Mục đích của việc điều trị là thay đổi toàn bộ trong cá nhân thông qua việc thống nhất các cảm xúc, suy nghĩ và các cách cư xử kết hợp với một lối sống không ma túy chung cho cả xã hội. Khái niệm Liệu pháp xúc cảm lý trí ( R.E.T) đã dược sử dụng phổ biến và đang được chấp nhận như là một công cụ điều trị chủ yếu. Khái niệm có thể tóm tắt như sau:

Các cảm xúc

 
  Các cảm xúc        : buồn bã, lo lắng, khổ sở, cô đơn, v.v...

Suy nghĩ              : Tôi vô dụng, v.v....

Cách cư xử          : Khó gần, rút lui, v.v....

  • Truyền thụ hy vọng (các giá trị và văn hóa TC)

Vào năm 1992, MPBTC bắt đầu các hoạt động đầu tiên với các quy trình tiêu chuẩn mà hội thảo trở thành các yếu tố then chốt của nó trước khi các công cụ khác được sử dụng. Sự định hướng và các hội nghị về văn hóa TC, các giá trị và triển vọng, được biểu lộ hoàn toàn khi so sánh với không khí phi TC. Trong khi thời gian tiếp tục, "niềm hy vọng" sau đó tự động được truyền thụ trong tâm hồn họ.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi, có một vài lần sự định hướng nhờ đó lại được tạo ra vì thiếu sự hiểu biết hoặc khi những người ngang hàng già dặn hơn đã hoàn thành việc điều trị của họ hay đã phóng thích khỏi nhà tù. Việc truyền dẫn niềm hy vọng để phát triển văn hóa và các giá trị, là quan trọng bậc nhất trong MPBTC. Điều này phải đảm bảo sự trôi chảy và phát triển nhanh chóng của TC và nó phải được thực hiện liên tục.

          Điều mong đợi của các cư dân phải là tính thực tế và phải trong phạm vi khả năng của nhân viên để cung cấp các dịch vụ và chương trình có sắn.

  • Giảm đến mức tối thiểu tội lỗi, xấu hổ và lo sợ

Các cư dân được khuyến khích chia sẻ các cảm giác tội lỗi, xấu hổ và lo sợ trong các hội nghị điều trị nhóm trong suốt giai đoạn điều trị của họ. Các nhóm như nhóm tĩnh, nhóm gặp gỡ, nhóm chia sẻ đau đớn, là rất hữu ích và đã mang đến sự giúp đỡ to lớn trong việc giảm đến mức tối thiểu các cảm xúc đó. Hội nghị nghệ thuật các cảm xúc cũng được sử dụng để đưa ra những cảm xúc vô nghĩa và thăm dò " sự hiểu biết sâu sắc tích cực" mới và/ hoặc " sức mạnh bên trong". Điều này phải giúp các cư dân ít thâm niên đó là những người tìm thấy khó khăn khi chia sẻ các cảm xúc với những người khác (trong chương trình) hoặc khi bày tỏ thẳng thắn các cảm xúc của họ. Nhưng sau đó, câu hỏi là không biết các nhân viên của chúng ta có được đào tạo trong lĩnh vực này không?

  • Cộng đồng trị liệu có thể thay đổi thái độ phạm tội như thế nào?

De Leon (1986) đã nhấn mạnh kiến thức xã hội thông qua kiểu mẫu xảy ra trong cộng đồng trị liệu như một thành phần điều trị trung tâm. Một kỹ xảo quan trọng đảm bảo trợ giúp thay đổi cách cư xử trong cộng đồng trị liệu là điều kiện cần thiết để tích cực được bao gồm trong bài học và kiến thức của các cư dân khác.

Một thành phần quan trọng của kiến thức như thế xảy ra qua quá trình cung cấp, đối đầu- người ngang hàng, liệu pháp nhóm gặp gỡ, các hội nghị khiển trách bằng lời nói và một vài loại hoạt động nhóm đối đầu.

Trong các giai đoạn điều trị gần đây cho các cư dân, được hy vọng là "đóng vai như thể..." nghĩa là các cư dân được khuyến khích cư xử như là người họ sẽ là hơn là người họ hiện tại cảm thấy họ là. Qua thời gian cư dân chuyển từ làm theo sang tiếp thu các nguyên tắc được ban hành đã làm mẫu trong cộng đồng.

Cũng chứng minh rằng những cư dân trong chương trình TC có hạnh kiểm rất tốt khi được so sánh với những người bạn sống chung phi TC trong tù. Họ cảm thấy yên tâm hơn và đã có ít hơn vấn đề về kỷ luật và các xu hướng phạm tội khác.

 

  • Hiệu quả của cộng đồng trị liệu

Giải pháp phòng ngừa việc tái phạm tội và tái vào tù

 

Tỷ lệ thành công của 12 TC dựa trên nhà tù

( 1996-2002/ tháng 4 năm 2002)

 

Phóng thích                           803

Tái nghiện                               204

Cảnh sát giám sát                    15   

Chết                                           3

 
   

Tổng cộng                               1025           72.35%

 

Nghiên cứu về vài hiệu lực các hoạt động chương trình, cho biết sự tiến bộ đáng kể trong nhận thức của các cư dân hướng tới các hoạt động của toàn bộ chương trình. Nhiều nghiên cứu như thế này đã được chỉ đạo bởi các đội điều tra được tiến hành trong các so sánh phương thức mà bao gồm các cộng đồng trị liệu (ví dụ: Simpson và Sells 1982), những nghiên cứu khác đã được chỉ đạo dựa trên và bởi các TC riêng lẻ (ví dụ : Holland 1978;) De Leon et. Al 1979, 1982; Barr và Antes 1981; De Leon và Jainchill 1981; De Leon 1984a).

Việc tồn tại chứng cứ cung cấp kết luận rằng hiệu lực của cộng đồng trị liệu trong việc cải thiện các kết quả phạm tội có xét xử của toà, có thể được khái quát hoá cho các chương trình hoạt động trong nhà tù. Ví dụ De Leon (1984a), đã tìm thấy những cải thiện có ý nghĩa trong các khách hàng đã điều trị ở Trại Phoenix với tinh thần khỏe mạnh, giảm bớt lạm dụng ma túy, giảm phạm tội và việc làm được tăng thêm. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy một sự tương quan trực tiếp giữa thời gian đã trải qua trong việc điều trị tại nơi cư trú và các kết quả tích cực.

          Chương trình Stay'n Out (nhà tù Athurkill) được khởi đầu vào tháng 7 năm 1997 trong hệ thống trừng phạt chính quyền New York. Các cư dân sống trong đơn vị trại riêng biệt từ giấc ngủ của cộng đồng nhà tù. Các nhân viên phần lớn là những người nghiện cũ đã trải qua cộng đồng trị liệu.

          Khám phá chủ yếu đó là việc lôi cuốn vào trong cộng đồng trị liệu có liên đới với những sự giảm bớt tỷ lệ bắt giữ trên những người bị giám sát hơn là đối với các tù nhân hoặc không chấp nhận việc điều trị ma túy hoặc chấp nhận các hình thức khác của việc điều trị ma túy. Những người trải qua hơn 12 tháng điều trị đã chứng minh những sự cải thiện khi dược so sánh với tình trạng của họ trước khi điều trị. Tuy nhiên, các kết quả của họ là thấp hơn khi được so sánh với nhóm trải qua điều trị trong khoảng 9 đến 12 tháng điều trị.

Kết luận

          Trong các giới hạn của lượng giá, tại thời điểm này, biện pháp thích hợp nhất để đánh giá là đối với các nhân lâm sàng được tiến hành trong chương trình TC cùng với các sinh viên đại học phải bắt đầu chia sẻ cả bằng lời nói và bằng chữ viết. Một khi một nền tảng kinh nghiệm rộng lớn được phát triển, các nhà trị liệu và các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác sẽ trong một vị trí tốt  hơn để thiết kế phương pháp lượng giá có hệ thống.

Hiện tại, một vài lượng giá được quản lý bởi việc sử dụng các cư dân TC dựa trên nhà tù làm những người trả lời. Nhà tù Jelebu đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu cho các sinh viên đại học và nhân viên các nhà tù đặc biệt ở Malaysia và Negara Brunei Daussalam. Hy vọng rằng, xu hướng sẽ tiếp tục trong tương lai với nhiều sự thu hút hơn từ các cơ quan khác (cục bộ và phổ biến) và có thể chúng ta muốn nhìn thấy chương trình TC có thể phát triển toàn bộ.

 

thành lập Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng:

Khởi đầu ở các nhà tù của Nhà nước Philippine

 

 

TS. Edilinda G. Patac

Cục Trừng phạt và Cải tạo, thành phố Muntinlupa

Hệ thống trừng phạt và cải tạo ở Philippine gồm 6 cơ quan trực thuộc ba (3) Bộ riêng biệt của Chính phủ như sau:

Bộ Tư pháp: Trực thuộc Bộ này có Cục Trừng phạt và Cải tạo, Văn phòng Quản chế án treo và Ân xá, và Ban Tha bổng và Ân xá.

Bộ Nội vụ và Chính quyền địa phương: Trực thuộc Bộ này gồm những Nhà tù cấp tỉnh do chính quyền tỉnh đó quản lý và Cục Quản lý nhà tù – quản lý các nhà tù cấp thành phố và cấp quận.

Bộ Phát triển và Phúc lợi xã hội: Trực thuộc có Cục Chăm sóc Trẻ em và Thanh thiếu niên – có nhiệm vụ quản lý các trung tâm phục hồi thanh thiếu niên.

Phạm nhân bị toà kết án tù từ 3 năm trở lên sẽ bị giam tại các nhà tù thuộc sự quản lý của Cục Trừng phạt và Cải tạo: Những tù nhân này được xếp vào loại tù nhân cấp nhà nước. Với phạm nhân có mức án nhẹ hơn, cũng như những người đang chờ xét xử ở cấp toà án thấp hơn thì bị giam giữ ở nhà tù cấp tỉnh thuộc chính quyền địa phương; Còn với những người đang chờ xét xử ở toà án cấp thành phố hoặc đang chấp hành án nhẹ như vi phạm các quy định hay luật lệ của thành phố thì bị giam giữ ở các nhà tù của thành phố hoặc của quận, thuộc quyền quản lý của Cục Quản lý nhà tù. Phạm tội là vị thành niên thì thường được đưa đến các Trung tâm phục hồi thanh thiếu niên thuộc Cục Chăm sóc Trẻ em và Thanh thiếu niên, trừ các trường hợp bị phán xét đặc biệt như phạm tội có chủ ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị giam giữ tại các trại cải tạo của nhà nước.

Cục Trừng phạt và Cải tạo (BuCor), là nhà tù quốc gia, là một cơ quan thuộc Bộ Tư pháp. Chức năng chính của nó là chữa trị và phục hồi lại những phạm nhân cấp nhà nước, xoá đi những hành vi tội phạm và chuẩn bị cho họ sự hoà nhập với môi trường kinh tế và xã hội khi họ được thả. Để đạt được mục tiêu này, tù nhân

cần được phân loại theo mức độ phạm tội để từ đó xác định biện pháp chữa trị và phục hồi hiệu quả. Trung tâm Tiếp nhận và Chẩn đoán sẽ tiếp nhận, chẩn đoán và phân loại tù nhân được đưa đến Nhà tù New Bilibid thuộc Cục Trừng phạt và Cải tạo. Tại đây tù nhân được phân loại theo mực độ an ninh và được chuyển đến một trong những cơ sở sau:

a) Tù nhân có án tù từ 20 năm trở lên sẽ bị giam ở Khu trại an ninh cao nhất.

b) Tù nhân có án tù dưới 20 năm sẽ bị giam ở Khu trại an ninh trung bình.

c) Tù nhân chỉ còn 6 tháng chấp hành án phạt trước khi mãn hạn tù được giam giữ ở Khu trại mức độ an ninh thấp nhất.

Lấy thời điểm tháng 12/2001, số tù nhân bị quản chế đã lên đến 23.965 (số trung bình hàng ngày) được phân bố ở 7 cơ sở là: Nhà tù New Bilibid (NBP) ở thành phố Muntinlupa; Trại cải tạo dành cho nữ giới ở thành phố Mandaluyong; Nhà tù và Trại cải tạo Iwahig ở Puerto Princesa, Palawan; Nhà tù và Trại cải tạo Sablayan ở Occidental Mindoro; Nhà tù khu vực Leyte ở Abuyog, Leyte; Nhà tù và Trại cải tạo San Ramon ở thành phố Zamboanga; và Nhà tù và Trại cải tạo Davao ở Panabo, tỉnh Davao. Gần 64,55% (tức 15.469 tù nhân) của tổng số trên được giam giữ tại thành phố Muntinlupa.

Đáng chú ý là số lượng ngày càng tăng của phạm nhân về ma tuý hoặc có liên quan đến ma tuý tại Cục Trừng phạt và Cải tạo. Sự nguy hiểm mà những phạm nhân này đặt ra với nhà tù và ảnh hưởng tới các tù nhân khác là rất lớn bởi mức độ ảnh hưởng của ma tuý, nó có thể là một mối đe doạ ngay bên trong nhà tù. Vì vậy cần phải có ưu tiên chữa trị cho họ tái hoà nhập xã hội một cách êm đẹp.

Trong mấy chục năm qua, vẫn chưa hề có một chương trình chữa trị và phục hồi riêng cho tội phạm ma tuý. Điều này phần nào cũng làm tăng tỷ lệ loại tội phạm này.

Một phổ biến nữa là hiện chỉ có 7,44% hay 166 trong số  2.231 nhân viên trong các cơ quan lập pháp là có công việc liên quan đến công tác phục hồi, và chỉ có 6 tâm lý học cho trên 23.000 tù nhân. Do tình trạng này mà quá trình phục hồi không thể tránh khỏi bị cản trở.

 

Cục Trừng phạt và Cải tạo phụ trách quá trình giam giữ dài hạn và có thể cung cấp môi trường phù hợp cho Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng đối với nhóm khách hàng và khả năng chi trả cao nhất cho việc điều trị, vì các tù nhân được tổ chức dưới các nhân tố kiểm soát về thời gian và hành động.

Phát triển một chương trình điều trị và phục hồi hiệu quả, chất lượng cho phạm nhân ma tuý thông qua Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng, một mô hình đại diện cho một môi trường có tổ chức cao trong đó có sử dụng cộng đồng, có áp đặt những quy định thưởng phạt cũng như lấy những tiến bộ đã đạt được của phạm nhân làm một phần của quá trình phục hồi và phát triển sẽ giúp giảm bớt tỷ lệ tái phạm, cũng tức là góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm.

Một Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng hoạt động hàng ngày dưới sự giám sát tối thiểu nhưng lại làm giảm bớt gánh nặng về số lượng biên chế nhân viên do tù nhân được chuyển tới môi trường điều trị và phát triển trong phạm vi của chương trình. Bằng việc trở thành thành viên của đội ngũ nhân viên (ở một trình độ nhất định), họ sẽ lập một phác đồ điều trị, có khả năng tái tạo lại văn hoá ở những phương diện khác. Hành vi của họ có thể gây ảnh hưởng tới cách cư xử trong xã hội ở một giới hạn được mọi người chấp nhận và duy trì những giá trị có ý nghĩa khuyến khích cá nhân phát triển vượt lên trên sự điều trị. Nếu được áp dụng thành công vào hệ thống nhà tù quốc gia, văn hoá điều trị cộng đồng có thể thay đổi bức tranh hiện tại và làm tăng mức độ thành công của việc phục hồi trong nhà giam.

 

KHỞI ĐỘNG ĐẦU TIÊN:

Việc triển khai chính thức Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng:

Năm 1998, Văn phòng  Quản chế án treo và Ân xá của Bộ Tư pháp đã có những bước đi đầu tiên trong việc triển khai Mô hình Phục hồi và Điều trị Ma tuý Cộng đồng, áp dụng mô hình Chữa bệnh Cộng đồng Daytop ở New York, Mỹ.

Các cơ quan liên chính phủ (DOJ, NBI, Bucor, DDB, DILG, BJMP, Narcom) đã tham dự khoá đào tạo chính thức Chữa bệnh Cộng đồng được tổ chức bởi các quan chức, nhân viên của Tổ chức Quốc tế Daytop, New York và được tài trợ bởi Cục Pháp luật và thực thi chống ma tuý Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Các quan chức của Tổ chức Quốc tế Daytop, Mỹ đã đến thăm Trung tâm Cai nghiện và Phong trào tù nhân chống lại ma tuý (ICAD) vào năm 1998. Phong trào này được lập nên bởi 4 tù nhân tại Khu trại giam có mức an ninh trung bình của Nhà tù New Bilibid (NBP) vào tháng 3/1996. Nó được điều hành bởi  nguyên Giám đốc Cục (từ 1994 – 1998) – vị tướng cảnh sát đã nghỉ hưu ông Vicente G. Vinarao

 

và Bộ Tư pháp, 9 năm sau khi chương trình phục hồi và điều trị ma tuý cho phạm nhân trẻ tuổi bị dừng lại vào năm 1987.

Giám đốc Cục – Pedro G. Sistoza đã cho phép tổ chức Hội thảo Vang lại Chữa bệnh Cộng đồng với sự tham dự của các quan chức cấp cao của Cục vào tháng 9/1999.

Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng tại các Khu trại giam từ mức độ an ninh cao nhất đến thấp nhất của Nhà tù New Bilibid đã đồng thời hoạt động vào ngày 27/9/1999. Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng của Cục đã giúp cho Phong trào Tù nhân Chống lại Ma tuý hoạt động và ở Trại giam An ninh Trung bình của Nhà tù này Chương trình đã dùng trung tâm cai nghiện làm Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng (TCC). Sáu nhân viên và 16 thành viên của Phong trào tù nhân chống lại ma tuý đã trải qua 2 năm làm việc tại TCC (từ 27/9/1999 – 27/9/2000).

Tại Khu trại có độ an ninh cao nhất, các phạm nhân đồng tính là đối tượng đầu tiên được tiếp nhận vào Trung tâm. Song do điều kiện thiếu thốn về nhà cửa nên hàng ngày sau các buổi họp gặp mặt vào buổi sáng các phạm nhân lại phải quay trở về phòng trại, do đó họ không thể thực hành đầy đủ chương trình đã được xây dựng theo mô hình gia đình. Cũng không có các bộ phận chức năng chuyên trách như phụ trách đất vườn, bảo vệ, hành chính, xúc tiến, và bếp ăn.

Tại Khu trại mức an ninh thấp nhất, chương trình không thực hiện được vì không có phạm nhân ma tuý tại đây. Tại thời điểm đó, chính sách của quản lý nhà tù đã không có việc sắp xếp phạm nhân ma tuý từ khu an ninh trung bình xuống khu an ninh thấp nhất.

Một vấn đề khác gặp phải khi thiết lập Chương trình tại khu trại an ninh thấp nhất là việc phạm nhân ở đó đều là những người chỉ còn bị giam giữ 6 tháng đến 1 năm, họ phải đi lao động và công việc lại chiếm hầu như hết thời gian trong ngày nên việc họ tham dự Chương trình là hoàn toàn khó.

Chương trình tại khu trại mức an ninh trung bình có thuận lợi hơn ở 2 khu khác. Thứ nhất là cơ sở được trang bị đầy đủ. Thứ hai là có đội ngũ nhân viên quản lý và kỹ thuật đầy đủ, từ đội ngũ này sẽ có một đội ngũ thành viên là những tù nhân được huấn luyện hoàn chỉnh, chính đội ngũ này lại trực tiếp giúp trong hoạt động hàng ngày của cơ sở. Tại khu trại này Chương trình đã được phác thảo, thử nghiệm và chính thức được triển khai. Cũng chính đây cũng là nơi thí điểm triết lý của Chương trình là trao quyền cho tù nhân để phát huy nội lực phục hồi cải tạo của họ, và nó đã được chính minh là có hiệu quả, thậm trí nhiều khi với sự giám sát tối thiểu.

Bản chất bắt buộc tại khu trại mức an ninh trung bình cũng là nhân tố góp phần cho sự phát triển của Chương trình. Những vấn đề mà tù nhân ở các phòng giam chung thường gặp như sự trật trội, đông đúc, thiếu điện nước, và đánh lộn nhau là không tồn tại ở Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng. Một “gia đình” quan tâm chăm sóc sẽ đáp ứng những phạm nhân mới chứ không phải là những luật đe doạ của các băng nhóm trong tù.

Một số vấn đề gặp phải trong triển khai Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng tại Cục Trừng phạt và Cải tạo:

Mặc dù đã thấy hiệu quả ở Hoa Kỳ và một số cơ quan hành pháp khắp khu vực Châu á Thái bình dương, trong đó có Philippine, song Chương trình Cai nghiện cùng Chữa bệnh Cộng đồng như một mô hình mới được giới thiệu lần đầu tiên ở các nhà tù của đất nước này. Những nhân tố có ảnh hưởng tới hoạt động của Chương trình có tác động đến các hoạt động diễn ra hàng ngày tại nhà tù và có tác động đến những yêu cầu cụ thể, chúng bao gồm:

Sự thờ ơ của một số tù nhân và nhân viên nhà tù với phương pháp mới trong điều trị và phục hồi:

Năm 1996, khi hạt giống cai nghiện được gieo bởi Phong trào Tù nhân chống lại Ma tuý thì các cán bộ và thành viên của Phong trào đã bị một số tù nhân nhạo báng là “lũ chim mồi” hay là bọn do thám trong tù, họ còn bị đe doạ hành hung. Khi nhóm đạt được những tiến triển trong công việc chống lại ma tuý bằng việc phục hồi và điều trị hiệu quả, thì họ còn bị một số tù nhân và ngay cả nhân viên không ủng hộ gán cho là bọn tù nhân dửng mỡ hành động điên rồ để hưởng thêm ân huệ trong tù.

Đã có những lần các thành viên trên bị ngầm hãm hại với những buộc tội như tàng trữ và bán ma tuý, sử dụng máy vi tính, tàng trữ vũ khí và những tội khác tự nghĩ ra nhằm bôi nhọ nhóm.  Vào thời điểm đó, nhóm đã thành công trong việc gây quỹ, trang bị lại một toà nhà cũ của trại tù thành trung tâm điều trị và cai ma tuý. (Nó tương xứng với cơ sở mà đã được kiểm duyệt bởi Uỷ ban các chất Ma tuý và sau đó đã được cấp phép hoạt động như một trung tâm điều trị và phục hồi. Sáu tháng sau, trung tâm được cấp Chứng chỉ Công nhận).\

Thiếu nhân viên kỹ thuật và hành chính quản lý:

Từ khi triển khai mô hình chữa bệnh cộng đồng để điều trị và phục hồi cho phạm nhân ma tuý, đội ngũ nhân viên kỹ thuật và hành chính quản lý tại Trung tâm làm cả 2 vai trò. Nghĩa là công việc của họ ở trung tâm chỉ là bổ sung cho nhiệm vụ chính thức ở văn phòng Cục.

Sự trợ giúp của các thành viên là tù nhân đã được huấn luyện trong hoạt động hàng ngày của trung tâm vừa cực kỳ quan trọng, vừa là sự chứng minh cho việc trao  quyền cho tù nhân tự giác thực hiện nhiệm vụ hàng ngày, phù hợp với triết lý của Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng về sự hình thành hành vi và quan tâm đến lợi ích lẫn nhau. Tuy nhiên, việc thiết lập này vẫn còn hạn chế trong hoạt động của Chương trình tại khu trại mức an ninh trung bình của Nhà tù New Bilibid là nơi có các tù nhân khởi đầu mô hình này thông qua Phong trào Tù nhân chống lại Ma tuý (ICAD), do vậy được ghi là một điển hình so với các nơi khác đang tiến hành Chương trình.

 

Thay đổi thường xuyên nhân viên kỹ thuật và hành chính quản lý tại Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng như một phần ưu tiên trong quản lý:

ở Trung tâm thí điểm, đã có 3 sự thay đổi chính trong thành phần của đội ngũ nhân viên hành chính quản lý và đội ngũ nhân viên kỹ thuật trong vòng hơn 2 năm (từ 9/1999 – 3/2001).  Có sự thay đổi hoàn toàn trong thành phần của nhân viên kỹ thuật những người đảm nhận trách nhiệm nhạy cảm là đánh giá kết quả hoặc tiến triển của từng cá nhân được điều trị và phục hồi. Trong quá trình chuyển đổi nhân viên, khi những nhân viên mới này điều chỉnh lại kế hoạch làm việc của họ thì công việc đánh giá cho những người đã được điều trị và phục hồi được 6 tháng hoặc hơn theo Chương trình sẽ không tránh khỏi sự ngắt quãng. Điều này có thể được chữa trị nếu Trung tâm có một đội ngũ nhân viên của riêng mình, khi mà Uỷ ban Ma tuý Nguy hiểm đã giao cho họ nhiệm vụ chính thức để tiến hành đánh giá ban đầu.

 

Thiếu cơ sở vật chất cần thiết cho Chương trình:

Tại thời điểm này thì chỉ có duy nhất Chương trình triển khai ở khu trại mức an ninh trung bình là được trang bị và hoạt động đầy đủ. Còn ở các nơi khác thuộc Cục vẫn đang trong giai đoạn đầu của việc xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị.

Ví dụ tại khu trại mức an ninh cao nhất của Nhà tù New Bilibid, phòng hội trường xã hội được lấy làm nơi diễn ra phần Họp vào buổi sáng cuả Chương trình. Phạm nhân ở đây hầu hết là đồng tính luyến ái, phải quay trở về phòng giam của

mình sau phần tập chung vào buổi sáng này. Vì vậy họ không thể làm tiếp với những bộ phận chức năng, mà những bộ phận này thì lại là thành phần không thể thiếu của Chương trình. Kết quả là toàn bộ Nguyên lý Chữa bệnh Cộng đồng đã không được thực hiện đầy đủ. Họ không được trải nghiệm cái không khí “như gia đình” vì mỗi người lại ngủ ở những phòng giam tập thể khác nhau, nơi mà họ dành phần lớn thời gian ở đó.

Ảnh hưởng của việc Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng nằm ngay sát các khu nhà tù:

Toà nhà chính của Trung tâm CBCĐ tại khu trại mức an ninh trung bình của Nhà tù New Bilibid có vị trí như các toà nhà trại khác trong nhà tù, không có hàng rào ngăn cách. Tương tự, phần mở rộng của Trung tâm nằm ở tại tầng 2 của một toà nhà thì ngay ỏ tầng trệt của toà nhà đó là 2 phòng giam tập thể chứa 400 tù nhân với các tội danh khác nhau. Phạm nhân ở cả 2 khu của Trung tâm đều có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các tù nhân khác bên ngoài trung tâm có bán ma tuý vì chúng có thể đến gần trung tâm, nói chuyện và thậm trí trao cho họ ma tuý bất hợp pháp. Đây là vấn đề nổi cộm trong 2 năm đầu của Trung tâm.

NHỮNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TRONG NĂM ĐẦU TIÊN:

Một vài tù nhân có thể đã giả vờ yêu thích chương trình để được tiếp nhận vào Trung tâm, chỉ để đạt mục đích hưởng những ưu tiên của Trung tâm như: cung cấp điện 24h trong ngày, nước sinh hoạt đầy đủ, chỗ ở không dông đúc chật hẹp, bếp ăn sạch đẹp, có khu giặt là, phòng tập thể thao, phòng hội trường xã hội, và không bị đe doạ từ các băng nhóm trong tù.

Tại khu trại an ninh trung bình, mỗi phòng giam tập thể thường đượcthiết kế để chứa chỉ 35 người nhưng thực tế nó luôn chứa gấp đôi số đó. Nó chỉ có 1 phòng tắm và 1 nhà vệ sinh nên rất mất vệ sinh. Nước được cấp 3 lần trong một ngày, mỗi lần chỉ trong 1 giờ. Điện chỉ cấp từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng, và tù nhân phải tuân theo luật của các băng nhóm trong tù, trong đó có bạo lực kiểu tình dục.

Điều kiện phổ biến tại các Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng thì tốt hơn rất nhiều. Một phòng giam tập thể, như ở trên đã đề cập sẽ bị nhồi nhét tới 200 người, thì ở đây chỉ có 70 người ở dùng giường sàn đôi. Tại toà nhà chính của Trung tâm, nơi đầu tiên được trang bị và hoạt động đầy đủ, thì lượng người lại chỉ có 30 người với 12 phòng ngủ. Cung cấp nước liên tục từ 5h30 sáng đến 5h30 tối. ở trung tâm

 

có một bầu không khí giống như ở nhà, tù nhân mới tới có thể thấy và dùng những đồ dùng gia dụng cần thiết ở đây, những cái mà họ không thể thấy ở những phòng giam bình thường – từ những cái đĩa ăn tới thìa, dĩa, dồ dùng nấu ăn, tủ lạnh, và đá cục uống nước. Tù nhân tại các phòng giam bình thường phải tự mua đá uống, không được phép sở hữu tủ lạnh, tủ làm mát dù là cho mục đích sử dụng thông thường. Một khi được tiếp nhận vào Trung tâm, thì dù là một tù nhân trông bẩn thỉu nhếch nhác cũng sẽ trở nên chỉnh tề hoàn toàn và trông lịch sự, có tự trọng và nhân cách trong khoảng thời gian không đến 6 tháng.

CHỐNG ĐỐI LẠI HOẠT ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH CHỮA BỆNH CÔNG ĐỒNG DẦN GIẢM ĐI VÀO THÁNG THỨ 8:

Trong 4 tháng đầu vào Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng, loạt tù nhân đầu tiên đã trải qua một thời gian khó khăn để thích nghi với chương trình, đặc biệt với sự áp dụng công cụ “thúc đẩy” hình thành hành vi thường được tiến hành vào các buổi sáng hàng ngày. Tù nhân chưa quen với việc bị nhắc nhở về những lỗi của mình nên khi bị nhắc nhở họ đã phản ứng tiêu cực.  Họ hiểu lầm rằng việc nhắc nhở này là bất lợi cho họ, thay vì cảm giác rằng việc nhắc nhở đó của những thành viên là phạm nhân của Trung tâm là thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của họ. Kết quả là một cảm giác nặng nề là đang bị theo dõi bao trùm. Do đó nếu có cơ hội tìm thấy lỗi của người khác, họ sẽ “trả thù” bằng việc tham gia vào phong trào “Thúc đẩy” trên để chống lại những thành viên đó. Cãi nhau và gây gổ đã thường xảy ra.

Nhiều tù nhận được nhận vào vẫn đang nghiện ma tuý nặng trong tháng thứ tư, hầu hết là loại methamphetamine hydrochloride hay còn gọi “shabu”. Với 70% đã bị trừng phạt vì lấy ma tuý bất hợp pháp từ các nguồn trong tù.

Tuân theo hệ thống thứ bậc trong tổ chức của trung tâm lúc đầu đã bị phản đối công khai nhưng đã dần trở thành bộ phận quan trọng trong quá trình xây dựng hành vi vì họ có cảm giác tự hào, hãnh diện mỗi khi được tăng bậc cao hơn – là trưởng một bộ phận, tốt hơn những người khác, một người đã qua đào tạo được công nhận. Đồng thời sự buồn bã cũng đến khi bị giáng chức từ cấp trên xuống cấp thành viên.

Những phản đối trên bắt đầu được khắc phục sau tháng thứ tư và giảm đáng kể xuống còn vài trường hợp vào tháng thứ tám.

TIẾN BỘ ĐẠT ĐƯỢC TỪ NĂM THỨ 2 ĐẾN NĂM THỨ 4:

Thành lập bộ phận cai nghiện tại bệnh viện của nhà tù/ Đầy đủ chức năng của Phòng thí nghiệm Ma tuý:

Tháng 6 năm 2001, Phòng thí nghiệm Ma tuý đượcthành lập ở Bệnh viện của Nhà tù New Bilibid với một bộ phận cai nghiện đầy đủ chức năng, với mục đích cai nghiện cho các tù nhân trước khi đưa họ đến Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng.

Tù nhân tình nguyện vào Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng phải ký một bản Cam kết tự nguyện trong đó có việc tự nguyện được xét nghiệm ma tuý nếu có yêu cầu và phải được sự đồng ý của Giám đốc điều hành của Trung tâm. Điều này nhằm đảm bảo những quyền con người cơ bản đối với những đòi hỏi khắt khe trong quá trình điều trị và phục hồi, những cái có thể nảy sinh nhưng cần được bảo vệ đúng mức.

Tập huấn cho nhân viên của Chương trình do Tổ chức Quốc tế Daytop, Hoa Kỳ tiến hành:

Từ ngày 15 – 26/7/2001, một hội thảo với sự tham gia của các quan chức Cục Trừng phạt và Cải tạo, theo Chỉ thị Đặc biệt số 293 S-2001 của Giám đốc Ricardo B.Macala ký ngày 15/6/2001, được tổ chức tại Villa Virginia, Antipolo Rizal, Philippiné, do Daytop International tiến hành và được tài trợ bởi Cục Phòng chống và Luật ma tuý Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Đây là việc làm theo đường lối cùng chương trình của Chính phủ Philippine để tăng cường hệ thống hành pháp chống tội phạm, nhằm kiểm soát hiệu quả hơn với tội phạm và nghiện ma tuý ở đất nước. Cục Trừng phạt và Cải tạo là cơ quan trừng phạt của nhà nước Philippines có nhiệm vụ giam giữ và phục hồi cho những người vi phạm Luật phòng chống ma tuý nguy hiểm và cả những phạm nhân loại khác, đồng thời cũng có nhiệm vụ triển khai mô hình chữa bệnh cộng đồng như một phương pháp mới trong điều trị và phục hồi phạm nhân ma tuý.

Xây dựng nhà mở rộng của Trung tâm và trang bị thiết bị đầy đủ cho nhà mở rộng, tại khu an ninh trung bình, Nhà tù New Bilibid:

Vào năm thứ hai, Trung tâm tại Khu an ninh trung bình bắt đầu đưa vào chương trình  điều trị và cai ma tuý cho những người ở bên ngoài Trung tâm. Cứ từng nhóm 10 phạm nhân đượctham dự một khoá định hướng 2 tuần, sau đó họ được cấp chứng chỉ đã tham dự. Nếu họ tình nguyện xin được phục hồi và điều trị hoàn toàn thì họ sẽ được đánh giá mức độ nghiện và một kế hoạch cai nghiện sẽ được phác thảo và sau đó thảo luận. Nếu họ đồng ý với bản kế hoạch này thì họ sẽ được xem xét để vào Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng. Trước khi dược chuyển đến, họ phải ký giấy tờ thể hiện sự tự nguyện xin được điều trị và phục hồi.

 

Cuối cùng thì số lượng tù nhân mong muốn  được vào chương trình điều trị và phục hồi đã tăng quá mức chỗ ở theo từng nhóm 10 người tại nhà chính của Trung tâm. Giám đốc Cục, Đại tá cảnh sát đã nghỉ hưu ông Ricardo B. Macala, đã cho phép sử dụng toà nhà mới 2 tầng làm khu mở rộng của Trung tâm. Song do sự quá đông đúc và chật trội tại các phòng giam thường nên đã cản trở việc dùng cả 2 tầng nhà, nên chỉ có tầng 2 được dùng làm phần mở rộng gồm văn phòng, phòng hướng dẫn, khu chức năng, thư viện, khu dạy nghề, khu thể dục và khu tiếp đón khách ở cánh phải; và phòng tập thể cho 70 người ở cánh trái.

Việc mở rộng này đã nâng tổng số người lên 100 (30 người ở toà nhà chính và 70 người ở khu mở rộng)

Đưa vào các khoá đào tạo kỹ năng nghề nghiệp:

Tháng 3/2002, Giám đốc Cục - Đại tá cảnh sát đã nghỉ hưu ông Ricardo B. Macala đã phê duyệt theo đề nghị của Giám đốc điều hành việc đưa ra khoá đào tạo nghề tại Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng tại khu trại an ninh trung bình của Nhà tù New Bilibid. Đây là một phần của chương trình phục hồi nhằm trang bị cho phạm nhân ít nhất một kỹ năng nghề nghiệp trong thời gian ở tù.

Những tù nhân có mức độ phục hồi đã được đánh giá sau 6 tháng và đã được xem xét có phát triển hành vi thì có đủ tiêu chuẩn để tham gia khoá học nghề.

32 tù nhân đã trải qua chương trình phục hồi và điều trị ma tuý 6 tháng cơ bản đã được nhận vào khoá học cơ khí tự động kéo dài 6 tháng. Một động cơ xăng và một dộng cơ dầu đã được cung cấp cho Trung tâm để dùng làm thực hành trong dạy nghề.

Các khoá dạy nghề trong lĩnh vực điện lạnh và điện dân dụng được giới thiệu vào năm sau.

 

Phổ biến chương trình chữa bệnh cộng đồng tới 5 trại tù cải tạo lao động nằm ở 5 vùng của Philippines do Cục Trừng phạt và Cải tạo quản lý:

Theo chỉ thị của Giám đốc Cục - Đại tá cảnh sát đã nghỉ hưu ông Ricardo B. Macala, tất cả 5 trại tù cải tạo lao động của Cục nằm ở 5 vùng của Philippines đã có nhân viên qua đào tạo về các phần cơ bản của mô hình chữa bệnh cộng đồng trong việc phục hồi và điều trị cai ma tuý. Mỗi cơ sở trên đã xây dựng một toà nhà riêng làm Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng, và 3 trong số đó bắt đầu tiếp nhận nhóm điều trị đầu tiên với từ 15 đến 20 người mỗi nhóm.

Tất cả các cơ sở tại các trại tù lao động cải tạo trên đều đã xây xong đang ở giai đoạn hoàn thiện và lắp đặt, trang bị các thiết bị.

Được cấp Giấy phép hoạt động của Uỷ ban về các chất ma tuý nguy hiểm của Philippines:

Ngày 18/7/2001, Uỷ ban về các chất ma tuý nguy hiểm Philippines đã cấp giấy phép hoạt động cho Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng của Cục Trừng phạt và Cải tạo.

Giấy phép hoạt động này cung cấp cho Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng của Cục (BuCor TCC) những định hướng cần thiết cho việc hoạt động đầy đủ các chức năng phục hồi cho con người trên cơ sở nhà tù, những chức năng đó có tác dụng nâng cao hiêu quả điều trị và phục hồi.

Chứng chỉ Công nhận do Uỷ ban về các chất ma tuý nguy hiểm cấp:

Ngày 25/1/2002, sau 6 tháng được cấp phép và hoạt động chính thức của Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng của Cục, Uỷ ban về các chất ma tuý nguy hiểm đã tiến hành thanh tra hoạt động của Trung tâm và tiếp sau đó đã cấp Chứng chỉ Công nhận cho Trung tâm, nhằm duy trì và củng cố sự tồn tại của Trung tâm như một trung tâm phục hồi cho con người.

Sự công nhận này biểu thị kết quả của mô hình điều trị và phục hồi của Trung tâm là một phần của hồ sơ tù nhân và sẽ là một cơ sở cho việc phân tích và tra cứu của Ban Tha bổng và Ân xã dùng khi cân nhắc xem xét ra quyết định ân xá cho tù nhân.

Khi Ban Tha bổng và Ân xá xem xét hồ sơ tù nhân của những người đã hoàn thành ít nhất là 6 tháng tại Trung tâm thì họ sẽ tìm thấy bản Báo cáo đánh giá được ký bởi Giám đốc điều hành của Trung tâm và Giám đốc Cục. Được phản ánh ở đây là mức độ phục hồi của tù nhân trên 4 mặt phát triển cá nhân là: hành vi, các kế hoạch hoà nhập kinh tế xã hội khi được thả, những kỹ năng nghề đã học được ở Trung tâm, và sự cai hẳn ma tuý.

Hoạt động cảu các Trung tâm tại 3 trại tù cải tạo lao động:

Vào các tháng 10, 11 và 12/2001, hội thảo-tập huấn về Chữa bệnh Cộng đồng cho các nhân viên và thành viên đã lần lượt được tổ chức ở 3 trại tù cải tạo lao động: Nhà tù vùng Leyte, Nhà tù và trại cải tạo lao động Iwahig và Nhà tù và trại cải tạo lao động Sablayan. Một tháng sau khi được tổ chức hội thảo–tập huấn, Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng ở từng nơi chính thức hoạt động, tiếp nhận từ 15 đến 20 tù nhân ở mỗi trung tâm.

Hướng dẫn hoạt động chuẩn cho Chương trình:

Bản hướng dẫn hoạt động chuẩn cho Chương trình được phác thảo bởi Giám đốc điều hành Trung tâm và sau đó được Giám đốc Ricardo Macala phê duyệt vào tháng 4/2002. Hưóng dẫn này giúp các nhân viên trung tâm làm việc đồng bộ không bị chồng chéo công việc.

Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng:

Cơ sở tại Khu an ninh trung bình của Cục gồm một khối nhà (gọi là ICAD Bldg) có diện tích mặt bằng là 280m2 với 30 giường, và một khối khác nữa (Toà nhà 6) có diện tích mặt sàn là 384m2 với 70 giường. Cả 2 khu nhà đều có các khu hoạt động riêng – phòng hội trường xã hội được trang bị dãy ghế băng, tivi, đầu đĩa VCD và karaoke. Nội quy khu nhà được dán niêm yết nơi dễ thấy. Cả 2 khu cũng đều có phòng quản trị riêng nơi lưu giữ tài liệu, giấy tờ của chương trình, có thư viện và phòng tập nhỏ có trang bị ghế băng, ghế nằm dốc và bộ tạ. Khu vực ngủ được trang bị giường kim loại đôi kê trên sàn thuận tiện và có quạt điện cho thoáng mát. Mặc dù với diện tích có hạn song các phòng đều sạch sẽ, và theo yêu cầu, các giường ngủ đều ngăn nắp. ở cả 2 nơi (Bldg 6 và ICAD Bldg) đều có 8 nhà tắm và 3 nhà vệ sinh, tất cả đều vệ sinh và có nước đầy đủ. Nhà bếp có tủ lạnh và bếp gas. Đều là thiết bị bếp hiện đại và đắt tiền, song bếp vẫn được che chắn, sạch sẽ và vệ sinh.

Đối tượng được tiếp nhận:

Ưu tiên 1:      Tù nhân với tội danh ma tuý hoặc có liên quan đến ma tuý đã qua lớp định hướng và đã được đánh giá kỹ lưỡng bởi Trung tâm Tiếp nhận và Chẩn đoán.

Ưu tiên 2:      Tù nhân ở mức an ninh trung bình đủ điều kiện để ân xá trong khoảng từ 18 đến 24 tháng.

Ưu tiên 3:      Tù nhân ở mức an ninh thấp nhất có vấn đề về lạm dụng các chất được hưởng ân xá không thấp hơn một năm.

Ưu tiên 4:      Tù nhân ở mức an ninh cao nhất tự nguyện đồng ý/ tình nguyện tham gia Chương trình.

 

Phương pháp Điều trị:

Từng nhóm tù nhân ma tuý hoặc có liên quan ma tuý sẽ được kiểm tra ban đầu do nhân viên của Trung tâm Tiếp nhận và Chản đoán (RDC) tiến hành. Phạm nhân tham gia Chương trình phải làm các xét nghiệm như: Kiểm tra thần kinh-tâm thần, chụp X-quang ngực, xét nghiệm nước tiểu và ma tuý. Các xét nghiệm được phối hợp thực hiện cùng với Bệnh viện của Nhà tù New Bilibid, hoặc các cơ sở xét nghiệm khác sẽ được chỉ định khi cần. Việc phân loại và định hướng cho các đối tượng này cũng do RDC tiến hành.

Một bản Hướng dẫn phục hồi và điều trị gồm 6 giai đoạn được đưa ra để mọi người thực hiện đầy đủ.

 

Nhân sự:

Giám đốc điều hành là một chuyên gia tâm thần học đồng thời cũng là một bác sỹ điều trị của Ban các chất Ma tuý Nguy hiểm. Bà đã hoàn thành khoá đào tạo 6 tuần về Khái niệm Chữa bệnh Cộng động ở trong nước và một khoá khác ở Mỹ do Cục Pháp luật và Thực thi chống Ma tuý tài trợ. Phó giám đốc điều hành cũng đã qua đào tạo chính thức về Chữa bệnh Cộng đồng cùng với 6 nhân viên khác do Tổ chức Quốc tế Daytop tiến hành vào tháng 8/2002. Sau đó Giám đốc điều hành đã tiến hành hội thảo phổ biến tới các cán bộ chuyên trách cùng các nhân viên của Cục có liên quan đến hoạt động. Cán bộ làm công tác Dịch vụ Đặc biệt/ hay Lâm sàng của Nhà tù New Bilibid có nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu về y tế, tâm lý, tâm thần của người tham gia Chương trình chữa bệnh cộng đồng. Không có việc cung cấp nhân viên thường xuyên, ngoài trừ 2 nhân viên an ninh tại Khu an ninh trung bình.

Nhân viên Kỹ thuật bao gồm:

-   01 Cán bộ Y tế

-   01 Tầm thần học

-   01 Tâm lý học

-   01 Xã hội học

-   01 Giáo viên

-   01 Y tá

 

Nhân viên Quản lý hành chính gồm;

-   01 Cán bộ quản lý/ Cố vấn

-   01 Người quản lý tài sản

-   01 Nhân vien văn phòng

-   06 Nhân viên an ninh

-   01 Lái xe/ Đưa tin

 

Tình nguyện viên gồm

-   05 người làm trợ giúp cho Cán bộ chuyên trách (là tù nhân)

Trợ giúp về kỹ thuật:

Vì mục đích phát triển chương trình, cơ sở đã được công nhận có thể có trợ giúp kỹ thuật từ Ban các chất Ma tuý Nguy hiểm. Trự giúp kỹ thuật này bao gồm các việc như hội nghị, hội thảo, đánh gia định kỳ các hoạt động dịch vụ khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình thông qua hiệu quả và mức chuyên môn cao của đội ngũ nhân viên.

Có đào tạo tiền khai trương cho các thành viên tương lai của đội ngũ nhân viên, tập huấn, đào tạo tại chức theo nhóm cho tất cả cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý, y tế, chữa bệnh, cũng như công việc giám sát thành viên – với nhiều hình thức du lịch nghiên cứu và suất học bổng, ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Mục tiêu nữa của chương trình đào tạo, tập huấn là: 1) để nhân viên theo kịp, không lạc hậu với xu hướng hiện nay trong các chương trình phục hồi và điều trị; 2) đảm bảo làm giàu thêm kiến thức và củng cố kỹ năng nghề cho nhân viên ở một số lĩnh vực chuyên môn của dịch vụ phục hồi  cho người nghiện ma tuý.

 

 

Nguồn hỗ trợ tài chính:

Các chương trình chữa bệnh cộng đồng được hỗ trợ từ các quỹ thường xuyên của Cục. Trung tâm thì sử dụng cơ sở hiện có được bố trí bởi đội ngũ nhân viên thường xuyên.

Ban các chất Ma tuý Nguy hiểm (DDB) đã trao tặng khoản tiền 1 triệu PhP cho Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng và Cai ma tuý của Cục hoạt động. Việc cung cấp tài chính cho các hoạt động trực tiếp dành cho các khách là tù nhân, một khi đã được xác định đủ điều kiện sẽ do Ban các chất Ma tuý Nguy hiểm quyết định trên cơ sở từng tháng, cũng để cho việc thanh kiểm tra định kỳ.

Tài chính có thể tìm kiếm từ các Tổ chức Phi chính phủ (NGOs) bằng cách tuyên truyền cho họ hiểu được sự cần thiết của một Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng

 

Kết quả cần đạt được:

Với việc triển khai phương pháp chữa bệnh này, Cục mong muốn đạt được những kết quả sau:

1.      Người tham dự không bỏ dở

2.      Phạm nhân đang được điều trị và sau khi kết thúc điều trị có hành vi tốt, không vi phạm bất kỳ nội quy, quy định nào của Trung tâm và của nhà tù, nêu tấm gương cho phạm nhân khác.

3.      Giảm đáng kể tỷ lệ phạm tội ma tuý hoặc có liên quan đến ma tuý của những người đã tham gia chương trình.

4.      Nếu chưa nhổ được tận gốc, thì việc buôn bán ma tuý và rượu cũng phải được giảm.

5.      Có phản hồi tích cực từ các cán bộ quản chế và ân xã về các mặt: báo cáo, tìm kiếm việc làm, đời sống xã hội.

Cũng có thể đoán trước được rằng các tù nhân đã hoàn thành chương trình sẽ có cuộc sống hữu ích, trách nhiệm với xã hội sau khi được thả tự do về với xã hội.

 

Các đánh giá:

1.      Tiếp tục theo dõi hành vi của các tù nhân tham gia chương trình tại các Khu an ninh trung bình và thấp nhất, cụ thể xem có bất kỳ vi phạm nào về nội quy, quy định của nhà tù, đánh giá các chương trình hoạt động và hành vi để làm gương.

2.      Phối hợp cùng Cơ quan Quản chế án treo và Ân xá về việc thả tủ nhân đã được Chữa bệnh Cộng đồng có phù hợp với các điều kiện ân xá và xem họ đã kiếm được việc làm phù hợp hay chưa.

 

3.      Phối hợp tích cực cùng các Tổ chức NGOs và các Tổ chức Chính phủ khác có liên quan trực tiếp tới các hoạt động và chương trình của Cục.

 

Phân tích các tác động:

Động lực kìm hãm:

Thiếu đội ngũ cán bộ, nhân viên cho dự án và sự giới hạn của cơ sở vật chất sẽ đặt ra một số vấn đề phải giải quyết lúc ban đầu.

Động lực thúc đẩy:

1.      Sự hỗ trợ được đảm bảo bởi công tác quản lý.

2.      Có sự hỗ trợ tài chính lúc ban đầu từ DDB.

3.      Việc thành lập Phòng thí nghiệm về ma tuý và Bộ phận cai nghiện, việc cấp phép đang được tiến hành.

 

 

Chương trình sau khi đã được điều trị và phục hồi ở tù/ Chương trình hỗ trợ sau khi ra tù:

 

Tham gia các chương trình đào tạo chính qui và không chính qui (từ bậc cơ sở đến bậc cao đẳng, đại học)

Sau khi được điều trị và phục hồi, những tù nhân vẫn chưa đủ tiêu chuẩn để được ân xá, nếu muốn dời trung tâm quay trở về khu tù lớn thì có thể xin học ở một trình độ phù hợp tại nhà tù.Tại khu an ninh trung bình của Nhà tù New Bilibid có các khoá học không chính qui ở các trình độ: cơ sở, trung học, dạy nghề và một khoá học cao đẳng quản trị kinh doanh

Tại các nhà tù kiêm trại cải tạo lao động, nơi công việc đồng áng là tập trung chính, thì việc giáo dục chính qui và không chính qui vẫn được triển khai cho các tù nhân.

Tuy nhiên cũng có nhiều vấn đề mà các tù nhân của chương trình chữa bệnh cộng đồng phải đối mặt khi họ quay trở về các khu nhà giam tập thể thường. Thứ nhất là sự đông đúc, trật trội; thứ hai là không còn môi trường chữa bệnh cộng đồng ở đó; và thứ ba là sự ảnh hưởng của các băng nhóm trong tù. Nguy cơ tái nghiện là khá cao đối với những người mới chỉ có 6 tháng được điều trị và phục hồi tại Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng. Còn với những người đã trải qua 2 năm tại Trung tâm, dù bất kể ở trình độ giáo dục nào đã được học ở chương trình thì đều có tinh thần vững vàng chống lại sự tái nghiện và sự ảnh hưởng của các tù nhân khác trong khu nhà tù lớn.

 

Cơ hội được phân công làm tại các phần việc có chuyên môn theo chương trình tại nhà tù:

Một lựa chọn khác cho các tù nhân đã hoàn thành xong điều trị và phục hồi tại Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng là họ có cơ hội được phân công làm tại khu lao động có chuyên môn tại nhà tù.

ở giai đoạn 5 của quá trình điều trị và phục hồi, tù nhân tham dự phần giả “tìm việc”. Họ phải đi xin một việc làm, phải cố gắng thể hiện ở mức cao nhất khi đi xin việc. Các cán bộ của Chương trình sẽ đóng vai “nhà tuyển dụng” của một cơ quan, công ty. Những người lọt qua vòng phỏng vấn sẽ được giới thiệu đến một công việc phù hợp.

 

Chuyển đến Cơ quan quản chế án treo và Ân xá theo dõi:

Khi được thả tự do, tù nhân đã hoàn thành việc điều trị và phục hồi tại Trung tâm được chuyển đến Cơ quan quản chế án treo và Ân xá hoặc các cán bộ ân xá cho họ để được hưởng sự trợ giúp sau khi ra tù/ hay sau điều trị trong việc kiếm việc làm. Tương tự như vậy, họ phải tham gia chương trình chữa bệnh cộng đồng sau khi ra tù nhằm củng cố sự thay đổi hành vi, kỹ năng nghề nghiệp, sự hoà nhập về kinh tế, xã hội đã được học và tình trạng dứt bỏ hoàn toàn với ma tuý. Họ sẽ phải đi xét nghiệm ma tuý định kỳ 6 tháng trong thời gian chấp hành án, trong thời gian này họ vẫn phải báo cáo với cán bộ ân xá phụ trách mình.

 

Một số vấn đề trong triển khai:

Phối hợp và hợp tác quá ít của một số phần chương trình liên quan:

Có thể thấy rằng việc triển khai chính thức mô hình chữa bệnh cộng đồng để điều trị và phục hồi cho phạm nhân ma tuý mới chỉ bắt đầu vào năm 1999, nên vẫn còn rất nhiều việc phải làm - để đăng ký sự trợ giúp của các phần chương trình đa dạng của Cục đối với chương trình chữa bệnh cộng đồng.

Việc hiểu biết đầy đủ và sâu sắc sự góp phần quan trọng của mô hình chữa bệnh cộng đồng trong việc điều trị và phục hồi cho phạm nhân ma tuý đối với các chương trình phục hồi hiện có của Cục vẫn chưa được trải rộng khắp các cơ sở trừng phạt của nhà nước Philippines. Với nhiều cán bộ chưa được tập huấn thì mô hình mới này chỉ được xem như là sự sao chép của các chương trình phục hồi đang có hiện nay, những cái mà đã tồn tại được trên hai mươi năm vừa qua.

Số lượng hạn chế của cán bộ tham gia trực tiếp vào Chưong trình:

Không có sự bố trí cán bộ đều đặn tại Khu an ninh trung bình. Chỉ có 2 cán bộ an ninh, mà với yêu cầu phải là 6 người làm việc 24h/ngày, được giao làm việc cụ thể tại Trung tâm. Vào ban đêm, công tác an ninh của Trung tâm được giao cho nhân viên an ninh chung của nhà tù mà hầu hết trong số họ vẫn chưa được tập huấn của Chương trình.

Xây dựng Chương trình Sau điều trị tại nhà tù:

Đề nghị các nhà lập pháp Philippines giúp đỡ kinh phí xây dựng và hoạt động của các cơ sở Chữa bệnh Cộng đồng tại nhà tù:

Một đề nghị chính thức với các thành viên của lập pháp Philippines về việc giúp đỡ kinh phí cho việc xây dựng và hoạt động thường xuyên của cơ sở Chữa bệnh Cộng đồng trong nhà tù vối đầy đủ đội ngũ nhân viên đã được dự thảo và sẵn sàng đệ trình.

Khi hoàn thành xong và đi vào hoạt động, Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng sẽ tiếp nhận 300 đến 500 tù nhân với các cơ sở vật chất như sau: Một (01) toà nhà 2 tầng dành làm nơicho các hoạt động hàng ngày của Chương trình, với các phòng học cho đào tạo dạy nghề; một toà nhà 2 tầng dùng làm nơi giải trí, bếp và phòng ăn, và phòng ở tập thể; một toà nhà 01 tầng để làm văn phòng; một nhà thờ nhỏ; một khu giặt, chứa nước, bơm nước; và một sân chơi bóng chuyền, bóng rổ. Toàn bộ khu vực nằm trong hàng rào thép với 6 tháp canh. Sẽ có khu vực trồng rau, gồm cả khu chuồng chăn nuôi gia cầm và lợn.

 

Đăng ký sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ để xây thêm nhà cửa cho Trung tâm Chữa bệnh Cộng đồng cho việc tiếp nhận tù nhân tái nhập:

Phần này của Chương trình vẫn đang trên bàn dự thảo và sẽ hoàn thành vào quý sau năm nay (2002).

 

Chữa bệnh Cộng đồng trong Hệ thống nhà tù

Kinh nghiệm của Persada

 

S.P. Rajenthiran

Cơ quan về các chất Ma tuý Nhà nước

Bối cảnh chung:

Persada là một trong số 28 trung tâm cai nghiện ma tuý ở Malaysia. Trung tâm chúng tôi được giao phục vụ cho các đối tượng tự nguyện đến cai và là trung tâm duy nhất như vậy cho tới nay.

Khi số lượng người nghiện ma tuý tăng lên mỗi ngày, thì cũng cảm thấy cần phải tiến hành thêm một chương trình phục hồi khác. Do vậy, đến cuối năm 1998, Cơ quan về các chất Ma tuý của Nhà nước Malaysia đã đi đến quyết định là tiến hành Chữa bệnh Cộng đồng ở một số trung tâm phục hồi hiện nay ở Malaysia. Đầu tiên, trung tâm chúng tôi được chọn làm thí điểm đầu tiên. Trước khi tiến hành chương trình này, ở trung tâm chúng tôi đã tiến hành nhiều khoá tập huấn kỹ cho cả nhân viên và tù nhân.

Chúng tôi đã có thuận lợi to lớn là có sự trợ giúp từ Trung tâm Daytop ở Mỹ và từ những cá nhân của vụ nhà tù Malaysia. Các khoá tập huấn đã được tiến hành bắt đầu từ tháng 10/1998 cho đến tháng 2/1999. Vào tháng 5 năm đó, ba cán bộ của trung tâm chúng tôi được gửi đi Daytop ở Mỹ để tham dự khoá đào tạo 6 tháng về Chữa bệnh Cộng đồng cho bác sĩ nội trú.

Tiếp sau đó, vào tháng 3/1999, Chương trình Chữa bệnh Cộng đồng bắt đầu ở trung tâm chúng tôi. Cũng từ đây, chúng tôi bắt đầu dùng Persada làm tên của trung tâm. Persada là nhóm chữ cái đầu của cụm từ “Pemulihan Rakan Sekelompok Amalan Daya Juang Abali” tiếng Malaysia. Được dịch ra tiếng Anh có nghĩa là:”Phục hồi cho đồng đội, một trận chiến đấu không ngơi nghỉ”.

Trong quá trình tiến hành mô hình mới này, đã có một số điều chỉnh được thực hiện để phù hợp với các giá trị và văn hoá địa phương. Sự điều chỉnh này là do người dân chúng tôi gồm đa sắc tộc, văn hoá, ở nhiều vùng khác nhau. Tuy nhiên những nét chính của chương chình vẫn được giữ nguyên.

 

Giai đoạn phát triển:

Hiện tại, sau 3 năm tiến hành Chữa bệnh Cộng đồng (CBCĐ), trung tâm chúng tôi đã thực hiện thành công thông qua giai đoạn giới thiệu CBCĐ cho cả đội

 

ngũ nhân viên và các tù nhân. Hiện nay, hầu như  90% Chương trình CBCĐ đang được tiến hành ở trung tâm chúng tôi. Thực ra, CBCĐ là chương trình phục hồi duy nhất tại chỗ chúng tôi hiện nay.

 

Động lực phát triển:

Động lực thúc đẩy phát triển dưới phần giới thiệu và tiến hành chương trình ở trung tâm chúng tôi là việc được các cán bộ của Cơ quan Ma tuý Nhà nước thuộc Bộ Gia đình Malaysia và Vụ Nhà tù Malaysia đào tạo nhân viên và tù nhân của chúng tôi. Bên cạnh đó, cán bộ của Tổ chức Daytop đã nhiều lần đến tiến hành tập huấn, tư vấn cho chúng tôi giải quyết nhiều vấn đề và khó khăn gặp phải trong thời kỳ đầu tiến hành chương trình này.

Chúng tôi đã rất may mắn là được thừa hưởng những dịch vụ từ hai nhà cựu CBCĐ, họ đã hoàn thành chương trình khi còn ở tù trước đó. Kinh nghiệm của họ là cực kỳ quý giá, đặc biệt cho giai đoạn đầu của chương trình.

Sự tận tâm và nỗ lực cùng phối hợp của đội ngũ nhânv viên và các tù nhân là những động lực thúc đẩy đằng sau sự thành công của chương trình.

 

Những khó khăn:

Trong quá trình triển khai chương trình này, trung tâm chúng tôi cũng đã gặp phải 2 khó khăn lớn nhất là cơ sở hạ tầng và sự hiểu biết về chương trình của cả nhân viên và tù nhân ở trung tâm.

Do thời gian cho phép ngắn mà chúng tôi lại phải sửa chữa nhiều khối nhà đã được xây dựng trước đây cho các hoạt động khác. Cũng vì không được câp phát thêm và điện tích chật trội nên khối 3 và 4 của toà nhà quản trị đã phải chuyển đổi thành những phòng để tiến hành các hoạt động của Chương trình, ví dụ như khu chữa bệnh, quản lý.

Sự hiểu biết về chương trình của tù nhân cũng là một cơ sở. Do vậy mà đã có những lúc xảy ra những nhầm lẫn và hiểu nhầm. Khi điều này xảy ra, chúng tôi phải nhờ các cơ quan như Vụ Nhà tù, họ đã phối hợp rất tốt với chúng tôi. Kinh nghiệm của Chữa bệnh Cộng đồng trước đây rất có giá trị và đã giúp chúng tôi rất nhiều trong những giai đoạn đầu.

 

Kết quả đạt được ban đầu:

Kết quả ban đầu của chương trình thể hiện rất rõ. Tù nhân đã có những thay đổi tích cực trong hành vi và ý thức kính trọng. Tinh thần ý thức như ở trong một gia đình đã đóng góp vào bầu không khí thêm thoải mái, khoẻ mạnh trong việc phục hồi cho tù nhân. Họ có trách nhiệm hơn trong công việc được giao.

ý thức chấp hành kỷ luật của tù nhân được nâng lên rõ rệt. Trước kia, cán bộ tù phải theo dõi, kiểm tra hành vi và ý thức của tù nhân thì nay tình trạng này đã thay đổi từ khi triển khai chương trình. Hiện nay các tù nhân tự để mắt trông giữ lẫn nhau. Những công cụ của CBCĐ cũng là các nhân tố góp phần nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật.

Điều này đã giúp cán bộ của trung tâm có thêm thời gian để quan tâm đến công việc và trách nhiệm của mình như việc hoàn thành công việc giấy tờ, sổ sách, có mối quan hệ tốt hơn với gia đình tù nhân. Ví dụ các cán bộ cố vấn có thêm thời gian để chuẩn bị cho tù nhân những cơ hội nghề nghiệp khi họ kết thúc thời gian ở trung tâm và được trả tự do.

Tinh thần đồng đội của cán bộ, nhân viên trong tù cũng tốt hơn rất nhiều từ khi tiến hành chương trình. Nhân viên từ các đơn vị, bộ phận đồng thuận phối hợp làm việc, do vậy đã củng cố hơn công tác giám sát và quản lý của chương trình.

 

Giai đoạn Chăm sóc sau khi đã được điều trị xong tại Trung tâm:

Những vấn đề chính gặp phải đối với tù nhân ở Giai đoạn Chăm sóc Sau khi đã được điều trị xong và được thả ra ngoài trung tâm là việc bố trí chỗ ở và việc làm. Với vài nhóm đầu tiên, chúng tôi đã cố gắng thu xếp cho họ làm việc ở khu tư nhân gần trung tâm. Lúc đầu, họ sẽ đi làm và sẽ quay trở về trung tâm vào buổi tối để ăn và ngủ. Khi họ có đủ độ tin cậy thì cho phép họ tự tìm chỗ ở.

Nhận thấy vấn đề là những nhóm tù này vẫn còn yếu, vẫn có nguy cơ cao bị tái nghiện, nên cần phải có sự nỗ lực từ cả trung tâm và cả Cơ quan Ma tuý Nhà nước Malaysia. Cũng theo quyết định của Cơ quan này mà một tổ chức trợ giúp đã được thành lập để giúp đỡ những tù nhân đã cai tại các trung tâm trên cả nước. Tổ chức này hoạt động vào thời điểm cuối năm ngoái.

 

Để tăng cường sự hiểu biết của các gia đình phạm nhân đối với thân nhân của họ, trung tâm chúng tôi đã có những bước khởi đầu thành lập một tổ chức hội viên gồm các gia đình của tù nhân  Thành viên trong uỷ ban của hội được bầu tại cuộc họp toàn thể diễn ra gần đây. Tổ chức sẽ xây dựng kế hoạch các chương trình và hành động cụ thể để làm lợi cho tù nhân và cả gia đình họ. Hy vọng rằng với sự thành lập của một tổ chức như vậy thì số lượng người tái nghiện cũng có thể được giảm đi. Tù nhân sẽ quay trở về với xã hội như là một thành viên hữu ích và đóng góp cho sự phát triển của xã hội và của đất nước.

 

Kết luận:

Sau khoảng 3 năm, chúng tôi đã thấy những kết quả tích cực từ phương pháp mới này. Từ những kết quả tích cực đã đạt được tại trung tâm chúng tôi, chương trình này được nhân rộng tới 5 trung tâm cai nghiện khác thuộc chính phủ Malaysia. Cũng sẽ sơm có thêm nhiều cơ sở nữa đi vào hoạt động. Tóm lại, Chữa bệnh Cộng đồng là một phương pháp tích cực đối với việc phục hồi cho người nghiện ma tuý ở Malaysia. Các kế hoạch đều đã được lập để tiến hành chương trình này tại các trung tâm trên khắp cả nước nhằm kiềm chế số lượng gia tăng của người nghiện ma tuý ở đất nước này.

Đang xem 348

Hôm nay 453

Tổng lượt xem 15,360,716