THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

BÁO CÁO CỦA TS. NGUYỄN QUỐC TRIỆU

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ, PHÓ CHỦ TỊCH ỦY BAN QUỐC GIA

PHÒNG CHỐNG AIDS VÀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN

MA TUÝ, MẠI DÂM TẠI HỘI NGHỊ CHUYÊN ĐỀ

CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI TRONG DỰ PHÒNG

LÂY NHIỄM HIV VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN         

Kính thưa Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng,

Kính thưa Đoàn chủ tịch,

Thưa các vị đại biểu,

Trước hết, Bộ Y tế xin nhiệt liệt chào mừng các quý vị đại biểu về dự hội nghị quan trọng này, đây là lần thứ 2, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ Y tế tổ chức hội nghị can thiệp dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng để bàn về một vấn đề hết sức cấp thiết trong tình hình hiện nay đó là Can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện. Theo sự phân công của Ban tổ chức, Bộ Y tế xin báo cáo công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV trong giai đoạn 2007-6/2008 như sau:

Phần I: Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

Kể từ trường hợp nhiễm HIV được phát hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1990, đến 30/6/2008 hiện có 129.722 người nhiễm HIV đang còn sống, 26.840 người đang ở giai đoạn AIDS và đã có 39.664 người tử vong do căn bệnh thế kỷ này. Riêng trong 06 tháng đầu năm 2008, toàn quốc đã báo cáo 9.904 trường hợp nhiễm HIV, 2.837 bệnh nhân AIDS và 1.646 trường hợp tử vong do AIDS. So với 6 tháng đầu năm 2007, số người nhiễm HIV được phát hiện, số bệnh nhân AIDS và số người tử vong do HIV/AIDS đều giảm.

 

6 tháng đầu

năm 2007

6 tháng đầu

năm 2008

Giảm

Nhiễm HIV

11.802

9.904

16%

Bệnh nhân AIDS

5.024

2.837

44%

Tử vong do HIV/AIDS

2.250

1.646

27%

 

Phân tích các trường hợp nhiễm HIV được báo cáo cho thấy số trường hợp nhiễm HIV ở nam giới cao hơn nữ giới 6 lần, nhưng trong 2 năm trở lại đây số người nhiễm HIV nữ giới có xu hướng gia tăng. Số người nhiễm HIV được phát hiện vẫn tập trung ở nhóm tuổi 20-39 chiếm 83,27%. Cho đến nay dịch HIV đã có mặt ở 64 tỉnh, thành phố, phân bố trên 97% quận, huyện và trên 67% xã, phường, có lẽ ít có một căn bệnh nào có sức lan tỏa mạnh mẽ như vậy. Đi sâu vào phân tích tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Đa phần các trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam là người nghiện chích ma túy hoặc có liên quan đến ma túy

Kết quả giám sát phát hiện cho thấy trên 55% các trường hợp nhiễm HIV là người nghiện chích ma tuý bị lây nhiễm HIV qua đường máu do sử dụng chung bơm kim tiêm. Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2007, tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ở nhóm người nghiện chích ma tuý, tỷ lệ nhiễm trung bình toàn quốc là 20,23% nhưng tỷ lệ này khác nhau ở các tỉnh, thành phố. Một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý rất cao như TP. Hồ Chí Minh: 51,33%, Quảng Ninh: 46,75%, Cần Thơ: 41,94%, Điện Biên: 40,35%.

Thứ hai: Dùng chung bơm kim tiêm trong tiêm chích ma túy là yếu tố nguy cơ chính làm lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy

Nghiên cứu giám sát hành vi năm 2006 cho thấy tỷ lệ người nghiện chích ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm vẫn còn rất cao: ở Thành phố Hồ Chí Minh: 37%, An Giang: 33%, Đà Nẵng: 29%, Cần Thơ: 25%. Điều đáng quan ngại hơn là trong số người nghiện chích ma túy bị nhiễm HIV, hành vi đưa bơm kim tiêm đã sử dụng cho bạn chích chung vẫn ở mức cao: qua nghiên cứu năm 2007 cho thấy 22% số người nghiện chích ma túy bị nhiễm HIV tiếp tục làm lây nhiễm HIV cho người nghiện chích ma túy khác.

Thứ ba: Có sự đan xen giữa các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như sử dụng chung dụng cụ tiêm chích và quan hệ tình dục không an toàn

Người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục với nhiều bạn tình khác nhau, trong đó có cả phụ nữ mại dâm. Qua các điều tra nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phần trăm số người nghiện chích ma túy báo cáo có quan hệ tình dục với gái mại dâm tại một số tỉnh là An Giang: 43,3%; Cần Thơ: 28,7% và Hà Nội: 20,5%. Tỷ lệ phụ nữ mại dâm sử dụng ma túy ngày càng gia tăng, một số tỉnh, thành phố như Cần Thơ, Hà Nội tỷ lệ này tương ứng là 17,3% và 16,7%.

Thứ tư: Trong những năm tiếp theo lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy vẫn có nguy cơ gia tăng

Trong giai đoạn 2007- 2012, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn duy trì  ở mức cao : ước tính vào năm 2012 ở Quảng Ninh là 56%, TP Hồ Chí Minh: 55%, Cần Thơ: 45%. Đặc biệt, mặc dù khởi phát muộn hơn những tỉnh thành khác, nhưng nhiễm HIV trong người nghiện chích ma túy tại khu vực Tây Bắc (bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên) có tốc độ gia tăng rất nhanh chóng, và nếu không có những biện pháp can thiệp toàn diện, quyết liệt, số nhiễm HIV tại những khu vực này sẽ gia tăng nhanh như các tỉnh, thành phố trọng điểm.

Có thể kết luận: hình thái lây nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dịch tập trung, tỷ lệ nhiễm HIV rất cao trong nhóm nghiện chích ma tuý, cao trong nhóm gái mại dâm, bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và thấp ở các quần thể khác. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, đây là giai đoạn phù hợp để triển khai các biện pháp can thiệp.

Phần II: Tầm quan trọng của chương trình can thiệp

Thứ nhất: Về cơ sở lý  luận và thực tiễn

Tình hình dịch HIV hiện nay đang tập trung chủ yếu trong nhóm tiêm chích ma tuý và gái mại dâm. Vì vậy can thiệp giảm tác hại là vấn đề bức thiết của chương trình phòng chống HIV/AIDS. Chỉ có hoạt động can thiệp mới có thể ngăn chặn được lây nhiễm HIV. Bài học của Úc đã khống chế lây nhiễm HIV dưới 2% trong nhóm nghiện chích ma tuý và hiện nay Úc vẫn tiếp tục phân phát bơm kim tiêm và bao cao su cho nhóm nguy cơ cao. Nghiên cứu tại Tp.Hồ Chí Minh cho thấy nếu đầu tư 900 Đô la Mỹ cho chương trình dự phòng thì sẽ phòng tránh cho 1 người không bị nhiễm HIV. Ở các tỉnh triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại không có sự gia tăng đột biến về tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm có nguy cơ cao nhưng ở những tỉnh không triển khai chương trình thì có sự gia tăng đột biến như ở tỉnh Điện Biên.

Thứ hai: Quan điểm chỉ đạo trong can thiệp giảm tác hại:

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo lấy dự phòng là chính, Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã coi can thiệp giảm tác hại là một trong 4 chương trình ưu tiên của chiến lược. Chương trình can thiệp giảm tác hại đã được đưa vào Luật phòng chống HIV/AIDS và được coi là quả đấm thép nhằm khống chế lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao và từ nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng.

Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại trong đó có Luật phòng, chống HIV/AIDS. Có thể nói, đây là một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất thể hiện sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của Nhà nước ta trong công tác phòng chống AIDS. Nghị định 108 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) đã quy định cụ thể về công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV trong đó có chương trình bơm kim tiêm, chương trình bao cao su và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

 

Kính thưa Phó Thủ tướng,

Thưa các vị đại biểu.

Phần III: Kết quả công tác can thiệp giảm tác hại trong thời gian qua

Thứ nhất: Về quản lý, chỉ đạo       

          Dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Chính phủ, nhiều văn bản quan trọng đã được xây dựng và ban hành như Luật phòng, chống HIV/AIDS, Nghị định 108 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật. Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã ban hành Chương trình hành động Quốc gia về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007-2010. Bộ Y tế cũng đã ban hành rất nhiều văn bản để đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm tác hại trong đó có nhiều văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường phân phát bơm kim tiêm trong can thiệp giảm tác hại.

Thứ hai: Về vận động và phối hợp liên ngành:

          Nhiều Hội nghị, Hội thảo vận động cho chương trình can thiệp giảm tác hại được triển khai từ Trung ương đến tuyến tỉnh, huyện, xã đã làm thay đổi nhận thức và tạo ra đồng thuận cho việc triển khai chương trình từ lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp đến các ban ngành đoàn thể liên quan trong đó phải kể đến sự ủng hộ của ngành công an. Năm 2007, Chính phủ đã tổ chức “Hội nghị toàn quốc về can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV” dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Sau Hội nghị đã có 49/64 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch về can thiệp giảm tác hại.  

          Sự phối hợp giữa ngành y tế, công an, lao động thương binh xã hội từ trung ương đến địa phương trong việc chỉ đạo và triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại ngày càng chặt chẽ hơn. Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức nhiều đoàn kiểm tra giám sát công tác can thiệp giảm tác hại. Các tổ chức chính trị, xã hội như Hội liên hiệp phụ nữ, đoàn thanh niên cũng đã tham gia các hoạt động can thiệp.

Thứ ba: Các hoạt động chuyên môn

Đối với chương trình bơm kim tiêm và bao cao su: trong năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008 đã phân phát 15.768.062 bơm kim tiêm. Số lượng bơm kim tiêm được phân phát năm 2007 tăng gấp 4 lần năm 2006. Số bao cao su phát miễn phí là 18.287.489 (năm 2007 tăng gấp 1,5 lần năm 2006) và số bao cao su bán trợ giá đạt hơn 68 triệu bao (năm 2007 tăng 2,2 lần so với năm 2006). Hoạt động phân phát bơm kim tiêm, bao cao su miễn phí chủ yếu được thực hiện  qua đội ngũ đồng đẳng viên của các dự án phòng, chống HIV/AIDS. Bên cạnh việc phân phát bơm kim tiêm, bao cao su, các đồng đẳng viên, cộng tác viên còn thực hiện các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi, tư vấn cho các nhóm đối tượng nghiện chích ma túy, gái mại dâm và người di biến động, giới thiệu họ đến các dịch vụ hỗ trợ khác trong khuôn khổ các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.

Năm 2007 các chương trình, dự án cũng tổ chức khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho các đối tượng có nguy cơ cao trong đó số được điều trị là 75.905 lượt người. Hoạt động này được thực hiện chủ yếu thông qua đội khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục lưu động, các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân.

Chương trình Can thiệp không chỉ được triển khai ngoài cộng đồng mà còn được triển khai một cách khá đều đặn dưới nhiều hình thức khác nhau cho các đối tượng là học viên trong các trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội. Các hoạt động trong các trung tâm này chủ yếu tập trung cho công tác truyền thông thay đổi hành vi thông qua hệ thống loa, băng hình về nội dung phòng, chống HIV/AIDS và can thiệp giảm tác hại. Hoạt động phân phát bao cao su cũng được triển khai trong trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tại 12 tỉnh với 630.733 bao cao su được phát miễn phí tại các Trung tâm.

Thứ tư: Kết quả chương trình Methadone

Sau một thời gian chuẩn bị, Đề án “Triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone” đã được triển khai tại thành phố Hải Phòng từ tháng 4/2008 và tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5/2008.

Mục tiêu của Đề án là (1) Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho 1.500 người nghiện các chất dạng thuốc phiện tại hai thành phố; (2) Giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV, (3) Giảm các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đối tượng tham gia điều trị và (4) Giảm tần suất sử dụng và tiến tới ngừng sử dụng các chất dạng thuốc phiện trong nhóm đối tượng tham gia điều trị.

Để đạt được các mục tiêu kể trên, Bộ Y tế đã phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh làm đầu mối chỉ đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Hải Phòng và Văn phòng Ủy ban Phòng, chống AIDS thành phố Hồ Chí Minh triển khai Đề án tại hai thành phố. Xây dựng, sửa chữa các cơ sở điều trị; mua sắm, lắp đặt trang thiết bị, cơ sở vật chất; thành lập Ban chỉ đạo Đề án thành phố do Phó Chủ tịch UBND thành phố làm Trưởng ban; thành lập Ban xét chọn bệnh nhân tuyến quận/huyện do Phó chủ tịch UBND quận/huyện làm Trưởng ban; tuyển chọn và đào tạo cho cán bộ công tác tại các cơ sở điều trị theo chương trình của Bộ Y tế; tuyển chọn bệnh nhân tham gia điều trị; khám, tư vấn, làm xét nghiệm cho bệnh nhân trước điều trị và theo dõi trong quá trình điều trị.

Các kết quả đạt được: Tính đến ngày 18/7/2008, tại 05 cơ sở điều trị Methadone của 2 thành phố đã điều trị được 209 bệnh nhân. Tại thành phố Hồ Chí Minh là 102 bệnh nhân và thành phố Hải Phòng là 107 bệnh nhân. Đã có 68/209 bệnh nhân đạt liều điều trị duy trì và liều cao nhất là 230mg (tại Hải Phòng), 150mg (tại thành phố Hồ Chí Minh), liều điều trị thấp nhất là 15mg. Số bệnh nhân còn lại vẫn đang trong giai đoạn dò liều. Tất cả các bệnh nhân đều tuân thủ điều trị tốt. Tại thành phố Hồ Chí Minh có 01 bệnh nhân xin dừng điều trị vì lý do cá nhân, 01 bệnh nhân bỏ điều trị không có lý do. Về tác dụng phụ của thuốc: không có bệnh nhân nào xuất hiện tác dụng phụ nghiêm trọng. Chỉ một số ít bệnh nhân có biểu hiện: ngứa, táo bón, buồn ngủ, nôn và buồn nôn… Hầu hết các bệnh nhân tham gia điều trị chỉ sử dụng thêm Heroin khi còn đang trong giai đoạn dò liều, khi bệnh nhân đã đạt đến liều điều trị ổn định thì không còn sử dụng thêm Heroin nữa.

Việc không sử dụng thêm Heroin hoặc giảm liều Heroin sử dụng trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị đã đạt được một trong các mục tiêu của Đề án. Bệnh nhân không còn sử dụng thêm Heroin cũng đồng nghĩa với việc đã tiết kiệm được một số tiền không nhỏ của bản thân và gia đình vào việc mua Heroin và các chất ma túy để sử dụng. Trong các báo cáo của các nước trên thế giới đã triển khai chương trình Methadone thì ngoài mục tiêu chính là giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV và tần suất sử dụng các chất dạng thuốc phiện, chương trình còn đạt được rất nhiều các  mục tiêu khác như: giảm các hành vi tội phạm có liên quan đến ma túy, giảm tử vong do quá liều Heroin, tăng hiệu quả điều trị bằng thuốc điều trị đặc hiệu ARV.

          Việc triển khai điều trị Methadone là một dấu ấn quan trọng trong công tác can thiệp và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện ở Việt Nam. Đánh giá bước đầu cho thấy, Đề án này đã đáp ứng được mong mỏi của người nghiện ma túy, gia đình và cộng đồng. Hiện nay, số lượng bệnh nhân đăng ký điều trị đã tăng lên rất nhiều và vượt xa mục tiêu ban đầu của Đề án. Đồng thời trong quá trình triển khai Đề án, Bộ Y tế đang chỉ đạo việc tiến hành nghiên cứu đánh giá để có báo cáo với Chính phủ. Hiện nay, Phó Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành phố Hà Nội là điểm tiếp theo triển khai thí điểm chương trình này, Bộ Y tế sẽ phối hợp với TP. Hà Nội triển khai chương trình và báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện.

 

Kính thưa Phó Thủ tướng,

Thưa các vị đại biểu.

 

Phần IV: Khó khăn tồn tại và nguyên nhân

Thứ nhất là: Số tỉnh, thành phố triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại còn thấp hoặc đã triển khai nhưng mới chỉ dừng ở mức tuyên truyền chứ chưa thực hiện hoạt động trao đổi bơm kim tiêm và phân phát bao cao su. Theo thống kê của Bộ Y tế, đến tháng 6/2008 có 22/64 Sở Y tế báo cáo khó khăn và chưa triển khai được hoạt động trao đổi bơm kim tiêm.

Thứ hai là: Độ bao phủ chương trình can thiệp giảm tác hại vẫn còn rất thấp. Chỉ có 19% xã, phường triển khai chương trình bơm kim tiêm và 32% xã, phường triển khai chương trình bao cao su. Lượng bơm kim tiêm phát ra chỉ bao phủ khoảng 15%-20% nhu cầu thực tế vì vậy không thể khống chế được lây nhiễm HIV trong các đối tượng nguy cơ cao này.

Thứ ba là: Việc phối hợp liên ngành trong hoạt động can thiệp giảm tác hại chưa thật sự mạnh mẽ, thiếu sự đồng thuận, phối hợp giữa y tế, công an, lao động thương binh xã hội. Một số địa phương vẫn còn tồn tại hiện tượng giáo dục viên đồng đẳng đi phát bơm kim tiêm bị công an theo sát để bắt các đối tượng nghiện chích ma tuý. Vì vậy rất khó tiếp cận với người nghiện chích ma tuý.

Thứ tư là: Đội ngũ làm công tác can thiệp giảm tác hại thiếu lại thường xuyên thay đổi do bị bắt, bị chết, chuyển nơi khác nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại.

 Thứ năm là: Đối với chương trình Methodone, số lượng người nghiện chích ma tuý có nguyện vọng tham gia điều trị nhiều hơn khả năng tiếp nhận bệnh nhân tại các cơ sở điều trị. Chương trình vẫn chưa chủ động trong việc cung cấp thuốc Methadone: thuốc phải nhập khẩu, thủ tục phức tạp và cần nhiều thời gian.

năm nguyên nhân chính dẫn đến các tồn tại trên:

Một là: chưa có sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật phòng, chống  AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm. Hiện nay Luật phòng, chống ma tuý đã được sửa đổi, bổ sung nhưng điều 3, qui định về những hành vi bị nghiêm cấm có nội dung tại khoản 4 “cấm  sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma tuý” không được sửa đổi gây khó khăn cho hoạt động phân phát bơm kim tiêm. Bơm kim tiêm  vẫn bị Luật phòng, chống ma tuý coi là “dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bên cạnh đó, Pháp lệnh phòng chống mại dâm hiện nay cũng vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung.

 Hai là: Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của các biện pháp can thiệp giảm tác hại của lãnh đạo các Bộ, Ngành, đoàn thể, chính quyền các cấp và người dân chưa cao. Vì vậy ở nhiều địa phương, kể cả các tỉnh thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao, lãnh đạo chính quyền các cấp và người dân còn xem nhẹ, hiểu chưa đúng về công tác can thiệp giảm tác hại, coi đó hành động tiếp tay cho ma tuý, mại dâm hoặc coi giáo dục truyền thông cho đối tượng này là can thiệp nên đã không tổ chức hoặc tổ chức rất hạn chế các hoạt động phân phát bơm kim tiêm cho người nghiện chích ma tuý và cung cấp bao cao su cho gái mại dâm.

Ba là: Sự đối xử, kỳ thị đối với người nghiện chích ma tuý, người bán dâm còn rất nặng nề, nặng nề hơn cả sự kỳ thị đối với người nhiễm HIV vì vậy các đối tượng này lại càng lẩn tránh và làm gia tăng lây nhiễm HIV trong các đối tượng này.

Bốn là: Một trong những nguyên nhân chính không triển khai chương trình can thiệp trên diện rộng đó là không có đủ nguồn lực. Hiện nay chương trình can thiệp chủ yếu được thực hiện nhờ các nguồn viện trợ và hầu hết sẽ kết thúc vào năm 2011. Các tỉnh, thành phố chưa đầu tư kinh phí thích đáng cho hoạt động can thiệp giảm tác hại. 

Năm là chính sách đối với người làm công tác can thiệp còn rất thấp, đối với cán bộ hầu như chưa có chính sách bồi dưỡng thích hợp trong khi đó đối tượng tiếp cận chủ yếu là người nghiện chích ma tuý, người bán dâm. Đội ngũ cán bộ mới được hình thành nên còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Chính sách lương và bồi dưỡng cho đồng đẳng viên dùng tiền ngân sách còn quá thấp. Theo quy định mới chỉ có 250.000 đồng/người/tháng vì vậy không tuyển được đồng đẳng viên bằng nguồn ngân sách của chương trình quốc gia.

Phần V: Kiến nghị

Thứ nhất: Cần tăng cường chỉ đạo, triển khai các hoạt động can thiệp trong phòng, chống HIV/AIDS:

Đề nghị Uỷ ban nhân dân tuyến tỉnh, thành phố đưa chương trình phòng, chống HIV/AIDS là một trong các chương trình trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng và phê duyệt kế hoạch hành động về công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch. Đầu tư thêm kinh phí cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS. Các tỉnh trọng điểm và các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái cần phải đặc biệt chú trọng và triển khai trên diện rộng chương trình cung cấp bơm kim tiêm vì các trường hợp nhiễm HIV trên địa bàn của các tỉnh này chủ yếu là tiêm chích ma tuý.

Ủy ban nhân tỉnh, thành phố cần chỉ đạo Ủy ban nhân dân tuyến quận, huyện, xã, phường tập trung chỉ đạo quyết liệt hơn việc triển khai chương trình bơm kim tiêm, bao cao su và mở rộng địa bàn can thiệp.       

Thứ hai: Cần tổng kết, đánh giá hiệu quả cai nghiện

Hiện nay có rất nhiều mô hình cai nghiện được triển khai, nhiều mô hình đã có hiệu quả như mô hình tại tỉnh Tuyên Quang, Nam Định. Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đánh giá các mô hình này để nhân rộng ra các địa phương khác. Việc điều trị cai nghiện thành công cũng chính là góp phần khống chế lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện ma tuý.  

Thứ ba: đối với việc triển khai điều trị Methadone

Chương trình Methadone mới được triển khai thí điểm tại Tp.Hồ Chí Minh và Tp.Hải Phòng với số lượng rất ít người nghiện chích ma tuý được điều trị (khoảng 1.500 người), chi phí khá đắt (năm đầu tiên chi phí cho một điểm điều trị cho 250 bệnh nhân là 3 tỷ đồng (1 bệnh nhân hết 11,7 triệu), ước tính từ năm thứ hai là 2,2 tỷ đồng/1 năm (một bệnh nhân hết 8,9 triệu). Kinh phí để vận hành chương trình hiện nay đều do các tổ chức Quốc tế tài trợ. Để duy trì và mở rộng chương trình can thiệp giảm tác hại nói chung và chương trình Methadone nói riêng, Bộ Y tế đề nghị Quốc hội, Chính phủ tăng cường đầu tư kinh phí cho chương trình phòng chống HIV/AIDS. Cho phép Bộ Y tế xây dựng đề án tách dự án phòng chống AIDS thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS thành chương trình mục tiêu quốc gia riêng để đảm bảo tăng cường nguồn lực, chỉ đạo đối với công tác phòng chống HIV/AIDS nói chung và chương trình can thiệp nói riêng.

          Hiện nay Chính phủ đã cho phép Hà Nội triển khai chương trình Methadone, Bộ Y tế sẽ hướng dẫn, phối hợp với Hà Nội triển khai chương trình và báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện.

Xin cám ơn sự chú ý lắng nghe của các vị đại biểu.

 

Đang xem 368

Hôm nay 452

Tổng lượt xem 15,360,715