THỜI

GIAN

LÀM

VIỆC

24/24

 

HOTLINE : (08) 6270 0119 - (08) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

TIỂU THUYẾT TÌNH BÁO

ĐIỆP BÁO A10

· NÔNG HUYỀN SƠN

TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI B CUỘC THI TIỂU THUYẾT,
TRUYỆN VÀ KÝ VỀ ĐỀ TÀI VÌ AN NINH TỔ QUỐC
VÀ BÌNH YÊN CUỘC SỐNG (2007-2010)
​DO BỘ CÔNG AN VÀ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỔ CHỨC

Có lẽ trên thế giới chưa có một tổ chức tình báo nào hoạt động đặc biệt như Cụm điệp báo A10.

Họ không được trang bị bất kỳ một thứ máy móc, thiết bị nào cả. Họ là những học sinh, sinh viên yêu nước và căm thù ngoại xâm, hoạt động tình báo bằng trái tim quả cảm và nhiệt huyết tuổi trẻ.

Họ phải đối đầu với những tổ chức tình báo hiện đại và dày đặc của Mỹ, của Việt Nam Cộng hoà. Họ có mặt ở nhiều cơ quan trọng yếu của địch và đã vô hiệu hoá một số chính sách nguy hiểm cho Cách mạng.

Họ góp phần thúc đẩy Tổng thống cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hoà lựa chọn con đường đầu hàng Quân giải phóng, nhằm cứu Sài Gòn thoát khỏi cảnh đổ nát bởi trận chiến giãy chết cuối cùng.

Họ là những nhân vật có thật. Những chiến công của họ là có thật.  

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

Một

Trang nhất nhiều tờ nhật báo tại Sài Gòn và quốc tế chạy hàng tít lớn “Một vụ nổ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông”.

Sài Gòn. Gần 12 giờ trưa thứ tư, ngày 10.11.1971, một vụ nổ kinh hoàng xảy ra tại giao lộ Phan Thanh Giản – Cao Thắng đã khiến giáo sư Nguyễn Văn Bông – Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chính cùng một người cận vệ tử nạn. Chiếc xe hơi chở giáo sư banh xác bởi sức nổ có sức công phá dữ dội.

Những nhân chứng có mặt gần nơi xảy ra vụ nổ tường thuật, khi chiếc xe hơi chở giáo sư Bông cùng người cận vệ chạy trên đường Phan Thanh Giản vừa đến giao lộ Cao Thắng phải dừng lại vì đèn tín hiệu giao thông bật đỏ. Ngay lúc đó, một chiếc xe gắn máy màu đen loại Honda 67 chở hai người thanh niên chạy trờ tới. Người ngồi sau vận quân phục biệt kích quân lực Việt Nam Cộng hòa nhảy khỏi xe, cúi người ném vào dưới gầm xe hơi của giáo sư Bông một chiếc cặp. Chỉ trong tích tắc, chiếc xe gắn máy chở hai người thanh niên gầm ga lao vút về hướng Chợ Lớn hòa lẫn vào dòng xe cộ đông đúc. Ngay sau đó, chiếc cặp từ  dưới gầm xe giáo sư Bông phát nổ. Tiếng nổ có thể nghe thấy từ cách hiện trường hơn 10km. Theo phân tích nhanh của các chuyên gia về vật liệu nổ, có thể chiếc cặp ấy chứa 6 trái lựu đạn M67 được chế tạo lại kíp kích hoạt chung để nổ đồng loạt.

Theo nguồn tin đáng tin cậy, hơm qua, ngày 9.11.1971, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thông qua người đại diện là ông Nguyễn Văn Kiểu (bào huynh của Tổng thống Thiệu, đồng thời là đại sứ đương nhiệm tại Đài Loan) chính thức ngỏ lời đề nghị giáo sư Bông nhận vai trò Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Công hóa thay thế Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Vì vậy, một số phân tích gia cho rằng, hung thủ sát hại giáo sư Bông không phải là Việt cộng mà có thể là một đối thủ chính trị trong nội các Việt Nam Cộng hòa.

Giáo sư Bông được khai sinh tại làng Kiến Phước thuộc Gò Công, Nam Việt Nam, tốt nghiệp cử nhân Luật quốc tế tại Paris năm 1956 và lấy bằng tiến sĩ Luật học, Chính trị học năm 1960. Năm 1962 ông có bằng thạc sĩ Công pháp Quốc tế - một bằng cấp hiếm hoi ở Việt Nam . Đầu năm 1963, trong khi tình hình chính trị Nam Việt Nam căng thẳng sôi sục bởi những cuộc biểu tình của giới Phật tử chống đối Tổng thống Ngô Đình Diệm, giáo sư Bông rời Pháp về nước để nhận giảng dạy tại trường Đại học Luật khoa Sài Gòn. Ngay trong buổi lễ khai hóa tại Đại học Luật khoa, ông đã đọc một bài diễn văn “Đảng pháp và đối lập chính trị”. Bài diễn văn của ông, ngay lập tức, được rất nhiều tờ báo trong nước lẫn nước ngoài đăng tải. Ông trở nên nổi tiếng trên chính trường. Tuy nhiên, nhiều tờ báo bị đóng cửa hoặc bị quấy rối bởi lực lượng mật vụ của Ngô Đình Nhu. Sau khi chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lực lượng quân nhân cách mạng đảo chính thành công, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chính đào tạo công chức trung cấp và cao cấp cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính sự nổi bật về tầm nhìn chính trị của giáo sư Bông đã thu hút nhiều đối thủ trong nội các Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chú ý.

Với sự khởi đầu đó, ông tiếp tục dấn thân vào đường chính trị bằng việc vận động ủng hộ một đảng phái theo xu hướng Việt Nam thống nhất, dân chủ được nhiều người ủng hộ có tên gọi là Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Phong trào Quốc gia Cấp tiến và Đảng Tân Đại Việt do giáo sư Nguyễn Ngọc Huy – tiến sĩ Chính trị học bạn đồng môn của ông thuở ở Paris – là thủ lĩnh đã liên kết với nhau thành một lực lượng đối lập với chính phủ đương nhiệm do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo.

Cách nay 1 năm, vào tháng 9.1970, Phong trào Quốc gia Cấp tiến đã đưa vào Hạ viện được 21 dân biểu – một lực lượng đáng để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu e ngại trong khi Mỹ đang gây sức ép để Tổng thống chấp thuận ngồi vào bàn đàm pháp Paris cùng Mặt trận Dân tộc giải phóng. Để lôi kéo lực lượng Phong trào Quốc gia Cấp tiến về phía mình, Tổng thống đã đưa giáo sư Nguyễn Ngọc Huy vào vai trò cố vấn chính trị phái đoàn Việt Nam Cộng hòa tham gia đàm pháp Paris.

Trước khi ám sát một ngày, ông Nguyễn Văn Kiểu – Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, là bào huynh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đến tận tư gia của giáo sư Bông ngỏ lời mời giáo sư nhận chức vụ thủ tướng thay thế thủ tướng đương nhiệm Trần Thiện Khiêm và giáo sư đã nhận lời.

Một số phân tích gia nhận xét: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc lòng thay thế Thủ tướng Khiêm vì Mỹ không muốn sự việc ngày 1.11.1963 xảy ra một lần nữa”. Điều đó có nghĩa là, Tòa Bạch Ốc muốn Thiệu dịu bớt sự bướng bỉnh vì không chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris . Giáo sư Bông là người cổ xúy chính sách hòa bình của Kissinger. Bởi tháng 7.1971, trước khi đi Bắc Kinh Kissinger đã ghé Sài Gòn và bất ngờ gặp riêng giáo sư Bông.

Ai đã giết giáo sư Bông? Không thể phán đoán chính xác khi chưa có bằng chứng rõ ràng”.

Suốt một tháng sau đó, nhiều tờ báo phân tích và tranh cãi nhiều chiều khác nhau. Có tờ cho rằng Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ mượn tay lực lượng thứ ba ám sát giáo sư Bông để đổ vạ cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tờ khác lại nghi vấn giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là chủ mưu để tranh giành quyền lực độc tôn trong Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Cũng có tờ nghi vấn Nguyễn Văn Thiệu bắt tay vối Nguyễn Văn Bông bằng tay phải trong khi tay trái ném lựu đạn.

Chính trường Sài Gòn bao phủ một màn nghi kỵ lẫn nhau.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

Hai

Một buổi sáng trung tuần tháng 12.1971, trên vỉa hè quán cà phê cóc đầu con hẻm trên đường Tôn Thất Hiệp, quận 11, gã thanh niên hippi trạc 20 tuổi ngồi xoãi chân ngáp vặt trước ly bạc xỉu đã nguội ngắt. Mái tóc dài phủ vai, cặp kính màu nâu đỏ to bản choáng một phần ba gương mặt, chiếc áo hoa hòe bó sát thân mình, cái quần dài bó sát đùi nhưng ống lại loe rộng che kín mất đôi giày cao gót khiến gã giống như một chú trống choai vừa trổ mã. Một hippi của thanh niên phản chiến Mỹ đã lan sang Sài Gòn và nhanh chóng thành một thứ chủ nghĩa dị bản trong giới thanh thiếu niên. Ngoài phố, trên vỉa hè, trong công viên, trong quán bar, đâu đâu cũng bắt gặp hình ảnh một gả, một ả hippi ngồi phởn phơ hút thuốc lá với vẻ bất cần đời giả hiệu. Cái vẻ không làm phiền ai của giới hippi lại khiến những người đứng đắn khó chịu, ngại đến gần, ngán dây dưa.

Ở cái quán cóc này cũng vậy, khi gã hippi nghễu nghện bước vào búng tay gọi ly bạc xỉu, những phu xích lô hiền lành an phận, vốn là khách mối đều đứng lên tính tiền rời quán. Không chó khịu vì điều đó, gã nhếch một nụ cười đểu cáng, phớt đời.

Không ai ngờ rằng, ẩn giấu bên trong cái vẻ lười nhác, phớt đời đáng khinh của gã hippi là những cuộn sóng nôn nóng. Bởi người thanh niên mang vẻ ngoài hippi đó chính là Nguyễn Minh Trí, đội trưởng đội trinh sát vũ trang liên quận thuộc lực lượng An ninh T4.(*)

Đêm qua, một người giao thông đã bật tín hiệu cho biết tổ trinh sát vũ trang của anh đang gặp mối nguy hiểm đe dọa gián tiếp. Tín hiệu yêu cầu anh không nên rời chỗ ở, chờ chỉ thị trực tiếp vào sáng nay, tại quán cà phê này. Đã quá giờ quy định hơn 1 phút anh vẫn chưa gặp được người giao thông. Theo nguyên tắc hoạt động, nếu trễ hẹn 5 phút kể như hủy bỏ cuộc hẹn để giữ an toàn.

Anh ngồi đếm từng thời khắc trôi qua chậm chạp, đồng thời cố rà soát lại mọi hoạt động của mình để tìm sơ hở khiến địch nghi ngờ mình. Hoàn toàn không.

Suốt hai tháng nay, anh được chỉ thị nằm im không hoạt động.

(*) T4: Đặc khu Sài Gòn – Gia Định trong thời kháng chiến chống Mỹ (Các chú thích trong sách là của Nhà xuất bản)

Cách nay hai tháng, “trên” yêu cầu anh chỉ đạo tổ thực hiện ám sát Nguyễn Văn Bông nhằm tạo mâu thuẫn nội bộ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Anh đã khảo sát đường đi hàng ngày của Nguyễn Văn Bông và lên kế hoạch ám sát rất chi tiết, nhưng cả hai lần thực hiện đều không thành công. Lần đầu, theo lịch trình cố định hàng ngày, nhân buổi trưa, Bông từ học viện về nhà ăn cơm bằng xe hơi, anh sẽ sử dụng chiếc xe gắn máy 67 đã xoáy nòng, đôn dên chở Tư Khá, một đội viên tích cực của tổ ôm chiếc cặp học sinh chứa 6 quả lựu đạn M67 đã được chế tạo lại chung một kíp nổ, chờ sẵn cách tư thất của Bông khoảng 100 mét. Khi chiếc xe hơi của Bông vừa giảm tốc độ để ngừng trước ngõ, anh sẽ phóng xe máy tiếp cận xe Bông. Tư Khá sẽ rút chốt chiếc cặp chứa lựu đạn rồi đẩy vào gầm xe của Bông đúng lúc nó vừa dừng hẳn. Mọi diễn biến diễn ra đúng như kế hoạch, nhưng… thời điểm quyết định ném chiếc cặp xuống gầm xe hơi của Bông trôi qua. Bông đã rời khỏi xe, Tư Khá vẫn ngồi im lặng sau lưng anh không hề hành động. Gã cận vệ của Bông thấy hai gã học trò đang dừng xe máy quá gần chiếc xe hơi bước đến gắt: “Hai thằng nhãi! Búng đi tép, lặn đi nhái, mai!”. Ngay sau đó, gã quay sang một chị bán gánh hàng rong đang ngồi nghỉ chân cạnh cổng nhà Bông, xua tay: “Chị kia, không được ngồi ở đây!”.

Khi đã phóng xe chạy đi trong tâm trạng bực mình vì hỏng kế hoạch, anh mới nghe Tư Khá lầm rầm xin lỗi phía sau: “Tao xin lỗi mày, đội trưởng. Tao không thể thực hiện vì chị bán gánh hàng rong vô tội”.

Anh không thể trách người đội viên tích cực của mình lấy nửa lời. Làm sao trách một tấm lòng nhân ái được.

Lần thứ hai, anh chờ đến giờ Bông đi làm sau giờ nghỉ trưa. Khi ông ta vừa xuất hiện nơi cửa, anh toan lao xe tới tiếp cận chiếc xe hơi thì thấy ngoài ông ta còn có cô con gái nhỏ của ông ta. Anh phóng xe đi thẳng. Lần này, chính anh là người quyết định hủy bỏ kế hoạch ám sát. Cũng giống như Tư Khá lần trước, lòng nhân đạo không cho phép anh sát hại người vô can. Ông Bông là mục tiêu của anh chứ không phải cô con gái của ông ta.

Sau hai chuyến thực hiện nhiệm vụ thất bại, theo nguyên tắc, “trên” yêu cầu anh bàn giao cho tổ khác và nằm im một thời gian. Chiếc cặp chứa lựu đạn do anh tự tạo cũng được chuyển đến vị trí cất giấu bí mặt khác.

Một tháng sau, vụ ám sát ông Bông xảy ra. Anh biết vụ ám sát do đồng đội anh thực hiện. Và anh vô can. Hai tháng nay anh không thực hiện nhiệm vụ nào, tại sao bây giờ người giao thông lại cảnh báo nguy hiểm?

Cơn nôn nóng của anh biến mât bởi sự xuất hiện của thằng nhóc bán báo dạo. Thằng nhóc tiến sát đến bên anh, mời:

- Mua giùm em tờ báo. Không thì cho em xin 2 điếu thuốc Salem .

Anh mỉm cười:

- Anh không có thuốc Salem nhưng anh cho tiền em mua thuốc “quân tiếp vụ”(*) hút đỡ ghiền.

- Thôi em không hút thuốc. Anh cho em ngồi chung uống cà phê đen là được rồi.

Đúng quy ước mật khẩu của giao thông, anh yên tâm gọi cho thằng nhóc một ly sữa nóng.

Trong khi chờ chủ quan mang ly sữa ra, thằng nhóc chìa cho anh một tờ báo. Anh cầm tờ báo luồn ngón tay vào bên trong thu lấy một cuộn giấy nhỏ, khéo léo như một gã ảo thuật có ngón nghề, nhanh tay cho vào túi quần.

Thằng nhóc uống một hơi cạn sạch ly sữa rồi đứng lên cám ơn anh. Nó chạy vụt đi, mồm rao: “Báo mới! Báo mới ra lò đê… đê! Hung thủ sát hại giáo sư Bông đã bị bắt! Báo mới, tin mới đê!”.

Anh gọi chủ quán tính tiền rồi đi sâu vào trong hẻm, đứng úp mặt vào một góc tường ra vẻ như đang tiểu tiện rồi móc cuộn giấy nhỏ ra. Đó là một mảnh giấy trắng, mỏng, nhỏ vừa đủ vấn một điếu thuốc rê. Anh đưa tờ giấy lên lưỡi thấm nước bọt. Một dòng chữ thật mảnh dần hiện ra: “Đọc trang nhất tờ báo. Tự phân tích mức độ nguy hiểm. Muốn về cứ về. C4 đã về nhà”. Đọc xong, anh vò mảnh giấy cho vào miệng rùi nuốt luôn vào bụng.

Anh vừa đi vừa mở tờ báo ra đọc.

“Tổng nha Cảnh sát Quốc gia đã bắt được 2 hung thủ sát hại giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Một người tên là Vũ Quang Hùng – sinh viên năm 3 Đại học Khoa học Sài Gòn được nghi là kẻ cầm lái chiếc xe gắn máy Honda 67. Người kia tên Lê Văn Châu – trung úy biệt kích quân lực Việt Nam Cộng hòa được cho là kẻ ném chiếc cặp chứa 6 trái lựu đạn vào gầm xe giáo sư Bông. Hiện chưa có bình luận chính thức nào từ phía Tổng nha Cảnh sát”.

(*) Một loại thuốc lá rẻ tiền cấp phát cho lính Mỹ bị bán lậu ra ngoài

Anh hơi choáng váng. Thế là tổ của Ba Điệp, tức Vũ Quang Hùng đã bể. Điệp sẽ khai ra tổ của anh không? Anh đoan chắc rằng không. Nhưng nguyên tắc không cho phép chủ quan. C4 tức anh Thái – người cung cấp và gìn giữ chiếc cặp chứa lựu đạn đã “về nhà”, tức đã về căn cứ. Anh có nên về căn cứ không?

Nếu mức độ nguy hiểm chưa cao mà anh rời vị trí chiến đấu để trốn chạy vào căn cứ thì hèn yếu quá. Mức độ hợp pháp của anh hiện giờ vẫn tương đối an toàn.

Kể từ sau vụ tố giác chế độ lao tù chuồng cọp của Nguyễn Văn Thiệu, anh có được vỏ bọc là một sinh viên tranh đấu cho tự do, hòa bình, hòa hợp dân tộc. Báo chí phương Tây và báo chí Sài Gòn đều thuộc nhẵn mặt anh. Với bỏ bọc đó, ngoài trường hợp anh bị bắt quả tang khi thi hành nhiệm vụ có tang chứng trong tay, bọn cảnh sát muốn đụng đến anh cũng phải dè chứng cánh báo chí gào lên rằng anh bị chính quyền Thiệu trả thù vụ chuồng cọp Côn Đảo.

Anh quyết định: Nước đến chân hãy nhảy.

Anh rảo bước về hướng nhà mình nằm sâu trong hẻm. Khi đi ngang một ngôi biệt thự nhỏ, anh dừng chân móc thuốc lá ra hút. Anh bật quẹt nhiều lần nhưng điếu thuốc vẫn không cháy. Ra vẻ bực mình, anh ném điếu thuốc xuống đất.

Bên trong cánh cổng, một viên trung úy bước ra hất hàm:

- Ê! Đi chỗ khác! Mày không biết đây là nhà ông phó tỉnh trường Bến Tre à?

Anh nhún vai cười, nói lớn:

- Đứng đốt điếu thuốc chứ có làm gì đâu mà ông trung úy xua đuổi.

Ngay sau đó anh hạ âm lượng, nói vừa đủ cho viên trung úy nghe:

- Chín giờ tối nay, tôi cần khám bác sĩ gấp. Chỗ cũ.

Nghe xong, viên trung úy lớn tiếng:

- Biến ngay. Lớ quớ thêm vài giây, tao cho một viên kẹo chì bây giờ.

Anh lại nhún vai, gằm mặt bước đi ra chiều nhẫn nhịn.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

Ba

Tối đêm đó, tại một căn nhà nhỏ nằm giữa xóm lao động nghèo khu Khánh Hội bên kia sông Sài Gòn, hai thanh niên trẻ chênh nhau vài tuổi ngồi bệt dưới nền đất cạnh mấy chai bia con cọp và dĩa gỏi khô sặc trộn xoài chua. Hầu như ly bia nào cũng vơi mặc dù chưa ai uống giọt nào. Chỉ có dĩa gỏi được gấp liên tục, vơi thật sự.

Người thanh niên trẻ hơn có đôi mắt nhanh nhạy, linh lợi chính là Minh Trí cất giọng vào đề:

- Thôi, hai anh em mình vờ nhậu như thế là đủ rồi. Giờ vào việc nè. Các anh ở T4 gởi lời khen ngợi anh về những hoạt động thúc đẩy phong trào sinh viên phản chiến, kêu gọi hòa bính. Các anh lãnh đạo rất thích thú chuyện các sinh viên Mỹ đốt thẻ quân dịch tại Sài Gòn. Hành động đó rất phù hợp với tình hình hiện nay, có lợi cho ta.

Khánh Duy với nước da trắng trẻo, mang cặp kính cận, ăn nói nhỏ nhẹ và chuẩn ý từng từ, nhỏ nhẹ cất giọng:

- Các anh ấy quá khen, chứ tao đã làm được gì to tát đâu. Chính tao cũng không ngờ mấy anh em sinh viên Mỹ lại nhiệt tình như vậy.

Trong mối quan hệ xã hội, Khánh Duy lớn tuổi hơn Trí nên thường mày tao trong trò chuyện mặc dù trong quan hệ công tác, Trí là cấp chỉ huy trực tiếp.

Khánh Duy háo hức nhớ lại cái đêm văn nghệ “Năm châu đấu tranh cho hòa bình” tại đường Công Lý hôm tháng 7 năm ngoái. Đó là một đêm trong chuỗi hoạt động của đại hội sinh viên liên viện đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh. Trong đại hội đó, sinh viên toàn miền Nam cùng thống nhất khẩu hiệu không đi quân trường, không học quân sự, không thi môn quân sự. Đại hội đã vận động được hơn 30.000 anh em sinh viên từ bỏ hẳn môn quân sự học đường, lôi kéo được hơn 450 sinh viên đang học quân sự bỏ về. Riêng sinh viên trường Y đốt cháy văn phòng huấn luyện quân sự học đường. Các anh em ở trường Văn Khoa, Vạn Hạnh, Kỹ thuật Phú Thọ cũng vậy.

Từ phong trào không đi quân trường, đêm văn nghệ “Năm châu đấu tranh cho hòa bình”, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã mời được rất nhiều đoàn sinh viên từ các nước đến tham gia nhưng anh chỉ chú ý đến các bạn ở đoàn sinh viên Mỹ. Trước đó, trong những đêm sinh hoạt “đốt lửa căm thù” để “nhận mặt kẻ thù, nhận mặt anh em, đốt lửa lên để nung nấu ý chí căm hờn, đốt lửa lên soi sáng niềm tin hy vọng”, anh cùng các bạn sinh viên chỉ đốt lửa, hát và kêu gào hòa bình khản giọng. Như thế vẫn chưa đủ để làm lung lay ý chí xâm lược của Toàn Bạch Ốc. Đêm “Năm châu đấu tranh cho hòa bình”, nhân có mặt các bạn sinh viên Mỹ, anh cần thêm gì đó mới mẻ để ngọn lửa đấu tranh nóng rực thêm, lan tỏa hơn những nguyện vọng của những người trí thức trẻ. Nhân lúc trò chuyện làm quen với một sinh viên Y khoa Mỹ tên Coin, anh phát hiện ra rằng, nhưng sinh viên Mỹ cũng bị phát thẻ quân dịch, cũng bị chính phủ Mỹ kích động tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Họ không muốn điều đó. Họ không muốn rời xa quê hương xách súng đi nửa vòng trái đất để gieo đau thương cho một đất nước nhỏ bé. Họ tiếc nuối cho những thanh niên quê hương họ bỏ xác ở một đất nước xa xôi không thù hằn. Đó là lý do họ tham gia đêm “Năm châu đấu tranh cho hòa bình” tại Sài Gòn. Khánh Duy đã cho Coin xem những bức ảnh chụp đồng quê Việt Nam xơ xác bởi chiến tranh, những em bé sơ sinh ôm bầu vú xác chết của mẹ, những bà mẹ vấn vành khăn tang khóc trên mộ con. Coin đã khóc thật nhiều. Ngày sau, Coin ôm xấp ảnh chạy đi gặp trưởng đoàn sinh viên Hoa Kỳ.

Ngay trong đêm đó, sau khi những bàn tay nắm những bàn tay của các bạn sinh viên đến từ khắp trái đất nối những vòng tròn, sau khi đàon sinh viên Việt Nam trao tặng lá cờ hòa bình có in hình chim bồ câu trắng tượng trưng cho khát vọng hòa bình, bất ngờ, đoàn sinh viên Mỹ đồng loạt rút tấm thẻ quân dịch châm lửa đốt rồi ném xuống đất, dùng gót giày giẫm đạp và hô vang khẩu hiệu “No war Việt Nam! Stop war at Việt Nam !” để biểu hiện tinh thần phản đối cuộc chiến xâm lược của chính phủ Mỹ đối với Việt Nam . Trước biểu hiện đó, nhiều bạn sinh viên Việt Nam đã chạy đến ôm hôn và bắt tay các sinh viên Mỹ. Ngày hôm sau, hầu như tất cả các tờ báo phát hành tại Mỹ đều đăng trang nhất hình ảnh các sinh viên Mỹ cùng nắm chặt tay sinh viên Việt Nam, dưới đất là tấm thẻ quân dịch của sinh viên Mỹ cháy nham nhở.

Bản tin đó trờ thành một trong những động lực thức đẩy quốc hội Mỹ nhóm họp phiên bất thường để xem xét lại vấn đề chiến tranh Việt Nam và đó là tiền đế thúc đẩy chinh phủ Mỹ chấp nhận tổ chức cuộc hòa đàm tại Paris .

Trí gắp miếng gỏi khô:

- Tôi đang ở mức báo động, có thể bị bắt hoặc về rừng bất cứ lúc nào. Nếu anh thấy vắng tôi một tuần là biết tôi đã đi hoặc bị bắt. Hiện giờ mức an toàn của anh được bao nhiêu phần trăm?

Khánh Duy không vội trả lời, trầm ngâm suy nghĩ. Anh biết, đã từ lâu cảnh sát Đô thành liệt anh vào danh sách phần tử nghi vấn có liên can đến Việt cộng những không có bằng cớ xác thực. Với vị trí lãnh đạo “phong trào sinh viên Y khoa Sài Gòn đấu tranh đòi hòa bình, công lý”, anh luôn tỏ ra “không liên can đến Việt cộng” nên chúng chẳng làm gì được anh ngoài việc cắt cử người theo dõi.

Đúng là kể từ khi tham gia phong trào đấu tranh, anh chưa “liên can đến Việt cộng” thật. Anh tham gia hoạt động phong trào xuất phát từ ý thức dân tộc chú không vì ý thức chủ nghĩa Cộng sản bởi anh hoàn toàn mơ hồ về chủ thuyết này.

Sinh ra trong một gia đình Phật tử nho giáo cố cựu, sống theo kiểu trí thức tiểu tư sản gốc Huế, tất cả anh em được sự giáo dục nghiêm khắc của người cha. Anh em anh luôn được uốn nắn ý thức dân tộc từ khi còn bé. Hàng đêm, sau bữa cơm tối, cha anh bắt các anh em của anh phải có mặt đầy đủ để nghe ông giảng những bài học luân lý làm người và Phật học sơ khai. Tư duy của cha anh là sự pha trộn giữa Nho học, Phật học và Huế học.

Vì tránh tên bay đạn lạc của chiến tranh, gia đình anh liên tục dời chỗ ở từ Đà Nẵng vào Hội An. Rồi từ Hội An vào hẳn Sài Gòn. Ở đâu, gia đình cũng một lòng thờ Phật.

Anh trường thành trong khối tư duy đó và trờ thành huynh trưởng trong đoàn thanh thiếu niên Phật tử ở Hội An. Anh chỉ biết học thật giỏi ở trường, ngoan thật ngoan ở nhà và lăn xả vào xã hội chia sẻ kiếp khổ với người nghèo, hoạn nạn. Trong tư tường anh không hề tồn tại bất cứ lý thuyết chính trị nào ngoài triết thuyết nhân quả.

Một ngày hè năm 1960, trong lần sinh hoạt huynh đệ Phật tử ở Hội An, một vị sư xuất hiện làm cả ngôi chùa xôn xao. Người lớn xì xào với nhau rằng, vị sư đó trụ trì một ngôi chùa ở Sài Gòn đang chuẩn bị tư hủy thân xác tìm về cõi chư Phật để cầu xin hòa bình cho dân tộc Việt Nam và để van xin cõi trên cứu Phật giáo Việt Nam qua khỏi cơn pháp nạn.

Anh chới với và hoảng hốt.

Bấy lâu nay, chỉ nghe phong phanh rằng chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo những đàn áp như thế nào thì anh không quan tâm đến. Bây giờ, một vị bồ tát sắp tự hủy diệt thân xác để đi tìm gặp đức Phật đã buộc anh suy nghĩ và tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra đối với những đứa con của Phật, trong đó có anh, gia đình anh.

Hôm đó, nhà chùa tập hợp tất cả sư, tăng, Phật tử lại để nghe vị sư bạch tâm. Vị sư đó nói rất nhiều về tình hình chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm đã sử dụng quyền lực ngầm tiêu diệt Phật giáo để đẩy dần Phật giáo vào chốn tuyệt diệt.

Giọng nói trầm buồn của vị sư khiến tất cả những người nghe nhỏ lệ. Có người khóc òa lên rồi cúi lạy vị sư liên tục.

Kết thúc cuộc bạch tâm, vị sư cho biết sẽ tự thiêu vào một ngày gần nhất. Ông kêu gọi tất cả những người con của Phật hãy đứng lên, nắm chặt tay nhau thành một khối đoàn kết bảo vệ nền Phật pháp. 

Tâm khảm anh tràn ngập một nỗi xót xa. Nỗi xót xa ấy lớn dần, lớn dần để rồi biến thành lòng căm ghét. Anh căm ghét kẻ đã báng bổ niềm tin tối thượng của anh.

Sau ngày đó, anh bắt đầu dấn thân vào các phong trào học sinh, sinh viên Phật tử đấu tranh. Từ những cuộc thảo luận của phong trào, anh bắt đầu tìm hiểu về cái chính phủ đang gây hấn với niềm tin tâm linh của anh. Hóa ra các chính phủ ấy không chỉ có ý muốn bóp chết tôn giáo của anh mà còn đón rước ngoại bang đem chiến tranh vào quê hương này. Những ca khúc “da vàng” của Trịnh Công Sơn bóp nghẹt tâm trí, lay thức cơn cuồng nộ quê hương trong lòng anh. Với tư cách huynh trưởng thanh niên Phật tử, anh kêu gọi, vận động học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình chống đối cái chính quyền vô nhân ấy.

Những vị sư liên tiếp tự thiêu. Ngày đêm, khắp các chùa chiền vang động tiếng chuông thảng thốt, vang động tiếng cầu kinh cứu khổ cứu nạn u uất, ai oán thê lương. Những dùi cui, lựu đạn, bố ráp, bắt bớ của cảnh sát. Những Quách Thị Trang, Trần Văn Ơn ngã xuống bởi bàn tay cuồng bạo của chính quyền. Xuống đường thôi. Xuống đường và xuống đường.

Cuối năm 1963, anh thi vào trường Y khoa Sài Gòn và đậu thủ khoa. Ngồi ghế giảng đường vài tháng thì tin chính phủ Ngô Đình Diệm bị tướng Dương Văn Minh lật đổ. Trong tâm thức, anh đặt tướng Minh vào vị trí thần tưởng chỉ vì ông ta là người lật đổ cái chế độ anh căm ghét.

Anh trở lại vị trí của một sinh viên chăm chỉ học hành. Thế rồi tình thế chính trị Sài Gòn lại buộc anh lao vào phong trào biểu tình. Cái chính quyền mới thay chính quyền Diệm thối nát đến đáng khinh. Mỹ lấn sâu vào chiến tranh Việt Nam . Anh biểu tình để giảm bớt sự thối nát của chính quyền. Thế nhưng càng biểu tình anh càng mất phương hướng đấu tranh. Chính quyền thuộc Mỹ này bị lật đổ thì chính quyền thuộc Mỹ khác lại mọc lên. Cuộc đấu tranh không phương hướng của anh và bạn bè sẽ chẳng đi về đâu. Càng đấu tranh càng mệt mỏi, càng chán chường và càng thất vọng.

Sau một chuyến xuống đường khản cả cổ, rã rời thân xác, anh được báo tin có một người thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng tìm gặp. Hóa ra đó là Minh Trí.

Minh Trí là con của bác Cả - xóm giềng thân thiết của gia đình anh ở Quảng Nam . Chạy trốn chiến tranh, cả hai gia đình đều lưu lạc ra Huế và trôi vào Sài Gòn, cùng cư ngụ chung một xóm nhà, vẫn giữ mối quan hệ thân thiết như xưa. Thuở còn là học sinh trung học Huế, Trí học cùng trường và dưới anh vài cấp lớp. Vào Sài Gòn, anh ít cso điều kiện tiếp xúc với Trí. Bất ngờ một hôm anh nhận được tin Trí bị bắt vì tội chống chính quyền rồi bị đày ra Côn Đảo. Anh vẫn không nghĩ Trí là Việt cộng mà nghĩ Trí là học sinh chiến đấu bị chính quyền Sài Gòn chụp cho cái mũ phản loạn như bao nhiêu học sinh sinh viên khác tranh đấu cho hòa bình. Thế rồi một hôm nhận được tin của Tổng hội sinh viên yêu cầu tổ chức biểu tình về vụ 5 sinh viên tố cáo chuồng cọp, trong đó có Trí. Anh thán phục Trí. Anh tự cảm thấy xấu hổ vì không làm được những chuyện can đảm như Trí. Đến khi gặp “người đại diện Mặt trận” anh mới ngã ngửa. Hóa ra, Trí đã là Việt cộng từ thuở nào.

Lần gặp đó, Trí hỏi thẳng anh: “Anh có muốn làm Việt cộng không?”. Anh tròn xoe mắt: “Làm Việt cộng để mần chi? Tại sao phải mần Việt cộng?” Trí hỏi lại anh: “Vậy, anh đang lãnh đạo cho sinh viên trường anh xuống đường đấu tranh cho cái gì?” Anh gãi mũi:  “Thì đấu tranh đuổi Mỹ về nước trả lại thanh bình cho quê hương Việt Nam chúng ta, chứ cho cái chi?” Trí lại hỏi: “Kết quả đấu tranh cho các anh đã đi tới đâu? Bao nhiêu năm nay, sinh viên, học sinh xuống đường bao nhiêu lần, bao nhiêu người? Bao nhiêu người xuống đường đã bị đánh đập, tù đày, giết chết? Mỹ đã cút chưa? Tại sao? Tại vì các anh đấu tranh tự phát, nhỏ lẻ. Một ngọn nến chỉ đủ soi sáng gương mặt mỗi mình anh. Hàng ngàn ngọn nến soi sáng một góc phố. Đất nước mình bao la. Nếu ngọn lửa các anh cháy theo kiểu ngẫu hứng không nhập chung với các ngọn lửa khác thì không thể hóa thành bão lửa. Mỹ vẫn sẽ cứ tồn tại. Nếu không biết hòa ngọn nến của mình vào những ngọn lửa khác, anh vẫn chỉ leo loét. Ở Sài Gòn này có rất nhiều tổ chức đấu tranh cho hòa bình như anh. Nhưng họ vẫn chỉ là những tổ chức con đẻ của bọn Xịa mọc ra để Mỹ khống chế chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chỉ có Cộng sản và duy nhất Cộng sản mới là ngọn lửa thật sự, đáng để tụi mình hòa ngọn nến vào”.

Khánh Duy nhận ra những người Cộng sản đang làm những điều mà anh và những bạn bè sinh viên mong muốn: Đuổi Mỹ về nước, lật đổ chính quyền tham nhũng, đòi quyền dân sinh, dân chủ và độc lập dân tộc cho người Việt Nam. Anh nhận ra, những người Cộng sản đấu tranh có tổ chức, có mục tiêu rõ ràng. Anh quyết định ngả lòng theo những người Cộng sản.

Thế rồi cái tết Mậu Thân năm 1968 đập vào hệ tư tưởng anh một khái niệm mới về người Cộng sản. Những chiến sĩ Việt cộng đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi tự sát đã làm anh rất xúc động. Họ chết vinh quang như những vị thánh.

Kể từ đó, anh hướng những hoạt động đấu tranh của mình theo hướng chỉ đạo của Thành đoàn thông qua minh Trí. Lúc đó anh cũng chẳng biết Thành đoàn là tổ chức gì, chỉ biết đó là một phần của Mặt trận. Thành đoàn cũng chẳng đòi hỏi nhiều, chỉ yêu cầu anh tập hợp lực lượng sinh viên biểu tình theo từng mục tiêu chính trị rõ ràng.

Anh vận động sinh viên tổ chức những đêm biểu diễn văn nghệ tập trung, văn nghệ xung kích, làm báo sinh viên, đồng thời tỏa đi khắp các xí nghiệp, các chợ, các xóm lao động và các vùng nông thôn ngoại thành để nói “cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi nói” và để “hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát” nhằm tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi lật đổ Thiệu, đòi Mỹ phát rút hết. Với sự nhiệt tình và lòng say mê đấu tranh, anh nhanh chóng được các bạn sinh viên bầu làm trưởng ban đại diện sinh viên trường Y.

Khi đã nắm được hoạt động của sinh viên trường Y, anh nhận thấy, không chỉ riêng 3 trường Y, Nha, Dược, thời gian sau này các tổ chức của Tổng hội Sinh viên hoạt động trở nên cầm chừng, lỏng lẻo. Điều này cũng dễ hiểu. Hầu như tất cả các hoạt động của sinh viên đều bị cảnh sát dập tắt ngay từ khi khởi động. Tháng trước, cánh sinh viên Nha khoa dự định tổ chức một đêm trắng đốt lửa trại, chưa chi đã bị bọn cảnh sát cho du côn vào tận trường đánh đập anh em, xé hủy bích chương. Anh biết cảnh sát đã cài được mật báo viên vào đội ngũ sinh viên. Phong trào sinh viên Y – Nha – Dược bị cảnh sát kẹp đến nỗi khó làm được chuyện gì to tát. Nhiều anh em đã bị chúng hốt về bót thẩm vấn liên tục. Đầu năm đến nay, phong trào 3 trường Y, Nha, Dược có phần trầm lắng, dịu đi. Nhìn xe hơn về năm sau, cái anh đại diện sinh viên trường Dược sẽ tốt nghiệp ra trường, không còn ai lãnh đạo phong trào. Tất nhiên sẽ có người khác được bầu vào thay thế nhưng có thể cảnh sát sẽ tìm cách đưa người của họ vào vị trí này để khống chế hoạt động của sinh viên. Anh đại diện sinh viên trường Nha thì thuộc dạng ba phải rất dễ bị cảnh sát hù dọa. Nếu không nắm giữ được phong trào của 3 trường Y, Nha, Dược thì rất uổng.

Nhân biến cố Mậu Thân, anh nhờ trí xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên thành lập một tổ chức sinh viên hoạt động công khai, hợp pháp trong lòng chế độ Việt Nam Cộng hòa. Được T4 đồng ý, anh sử dụng tiêu chí “nhường cơm sẻ áo, cứu giúp đồng bào bị ảnh hưởng chiến tranh” và chính thức nộp đơn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập “Đoàn cứu trợ xã hội sinh viên Y – Nha – Dược Sài Gòn” do anh làm chủ tịch. Anh tập hợp những anh em sinh viên có cảm tình với Cộng sản vào phong trào nàu. Lấy danh nghĩa đi cứu trợ, cứu thương cho đồng bào bị nạn chiến tranh, anh cùng anh em đi tìm những người của Mặt trận bị thương, bị kẹt lại trong nội thành đưa ra vùng giải phóng. Anh và các anh em còn tổ chức những cuộc cứu trợ thật cho đồng bào nghèo để tuyên truyền về chính sách, chủ trương của Mặt trận Giải phóng. Từ những cuộc tuyên truyền mang danh cứu trợ đó, nhóm của anh đã mời gọi những người yêu nước tham gia hoạt động cho Mặt trận. Hoạt động của Đoàn cứu trợ sinh viên Y – Nha – Dược trở thành một đơn vị thuộc Trinh sát vũ trang liên quận do Minh Trí trực tiếp chỉ đạo.

Giờ Minh Trí đang có nguy cơ lộ diện phải lánh vào rừng, anh băn khoăn:

- Mức độ an toàn của tòa hoàn toàn lệ thuộc vào mày vì sợi dây liên lạc duy nhất của tao với Trung tâm là mày. Mày không khai, tao không sợ lộ. Tao chỉ sợ phong trào của tao không ai định hướng.

- Hãy tim ở tôi. Nếu bị bắt, có chết tôi cũng không khai. Nhưng chúng muốn bắt tôi cũng không dễ đâu. Với tình hình này, để an toàn, tạm thời tôi và anh ngừng liên lạc một thời gian cho đến khi an toàn tuyệt đối.

Khánh Duy băn khoăn:

- Trong thời gian này, tao sẽ phải cho anh em sinh viên đấu tranh theo hướng nào?

- Tình hình mới được Trung tâm cập nhật và cho biết, Mỹ đã nhận ra sự sa lầy của chúng đang ở thế thua và đang tìm cách tháo lui, bỏ chạy về nước, Với bản chất gian manh, không muốn công nhận thế thua của mình, chúng tìm đến giải pháp đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại Paris. Nhưng Nguyễn Văn Thiệu ngoan cố cãi lời quan thầy Mỹ. Thiệu biết cái ghế tổng thống của y sẽ không còn nếu chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Trung tâm nhận định, Mỹ sẽ rút quân bằng mọi giá, kể cả giải pháp lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng Mỹ đang e ngại, nếu lật Thiệu, Mặt trận sẽ chớp thời cơ giải phóng miền Nam . Khi ấy, chúng chẳng còn gì để mặc cả với ta tại bàn đàm phán. Vì vậy, Trung tâm cần anh khuấy động mạnh phong trào đấu tranh đòi hòa bình để thúc ép Thiệu chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Đó là mục đích. Riêng phương thức đấu tranh như thế nào thì Trung tâm chưa chỉ đạo cụ thể. Thôi thì anh cứ linh hoạt. Ngày chiến thắng của ta đã cận kề, phải nhanh chân thôi. Nếu tôi biến mất, anh sẽ phải hoạt động một mình trong khi chờ Trung tâm bắt liên lạc lại.

Khánh Duy trầm ngâm suy nghĩ rất lâu rồi vỗ vai Trí, nói:

- Nếu mày bị bắt, tao sẽ tìm cách tổ chức sinh viên đấu tranh đòi thả dự do cho mày.

Trí khoát tay:

- Đồng ý. Nếu anh nghe tin cảnh sát bao vây nhà tôi thì việc đầu tiên cần làm là thông báo khẩn cấp cho cánh ký giả có cảm tình với Mặt trận để dập chúng một trận. Chúng không bắt được tôi đâu. Anh cứ tin vậy đi.

- Nhất trí chuyện này.

Hai anh em bá vai nhau cùng uống cạn một chai bia đầu tiên và cũng là cuối cùng của tiệc nhậu để chia tay.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

Bốn

Đã hơn 11 giờ đêm nhưng phòng làm việc của thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình – Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia – vẫn sáng ánh đèn. Cái đất Sài Gòn vốn ồn ào náo nhiệt suốt ngày lẫn đêm giờ vắng tanh, vắng ngắt bởi lệnh giới nghiêm của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khiến cảm giác bất an cư lượn lờ trong từng góc phố tối, hẻm nhỏ. Tiếng pô của một chiếc Honda, thậm chi tiếng rao bán hàng rong vang lên cũng làm người ta rơi vào trạng thái thảng thốt, chờ đợi một tiếng nổ long óc xảy ra sau đ1o. Những vụ ám sát yếu nhân chính trị vừa qua đã khiến không khí Sài Gòn luôn phập phòng một lo sợ vô hình.

Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả quýt nấp đâu đó giữ những chồng hồ sơ chất đầy trên chiếc bàn làm việc cứ vang đều đặn như nhịp tim của một gã vô hình nào đó.

Nguyễn Khắc Bình mệt mỏi ngã ngửa người trên chiếc ghế cạnh bàn làm việc, mắt nhắm nghiền, tay nắn bóp huyệt thái dương.

Ông ta giữ tư thế ấy suốt gần 1 giờ đồng hồ, thỉnh thoảng hé mắt qua kẽ tay nhìn dãy máy điện thoại 5 chiếc, đen trũi, nằm song song trên chiếc bàn làm việc như một lũ cóc. Ông ta chờ đợi tiếng chuông của chiếc điện thoại được nối dây trực tiếp với Phủ Tổng thống.

Đúng lúc ông ta không chịu đựng nổi kiên trì, toan đứng lên gọi sĩ quan trực pha một ly cà phê đắng thì một loạt chuông từ máy số 1 vang lên. Như một gã háu ăn đang đói gặp món ngn, ông ta chồm lên chộp lấy tổ hợp, run giọng:

- Tôi, thiếu tướng Nguyễn…

Người bên kia đầu dây cắt ngang lời ông ta:

- Tôi là Quang phụ tá an ninh của Tổng thống đây. Tổng thống đã họp xong, mời ông Thiếu tướng qua dinh. Mà khoan đã! Thiếu tướng có chắc rằng hồ sơ vụ ám sát giáo sư Bông đã hoàn tất? Bởi bây giờ đã khuya, Tổng thống rất mệt, dễ cáu gắt.

- Trình ông phụ tá, tôi cam đoan không làm mất thời gian quý giá của Tổng thống.

- Vậy thì ông sang ngay. Ông chỉ có năm phút để hiện diện tại dinh.

- Vâng, thưa ông phụ tá. Tôi xin phép gác máy.

  Khắc Bình quơ vội chồng hồ sơ có đánh dấu ký hiệu ưu tiên tối mật rồi đi như bay ra khỏi phòng làm việc, nhảy lên chiếc xe Jeep đã nổ máy chờ sẵn từ lúc nào. Tiếng còi hụ vang lên giữa đêm khuya khiến nhiều giấc ngủ thảng thốt choàng thức.

Chiếc xe lao vùn vụt qua ánh đèn đường mập mờ, qua những chốt gác dã ngoại, qua những chiếc nón sắt đen trũi có bàn tay chào và những họng súng cảnh giác.

Đã được báo trước, chiếc cổng sắt sau dinh Độc Lập mở rộng để chiếc xe lai thẳng vào.

Mặc dù máy lạnh mở hết công suất nhưng không khí vẫn cứ đặc quánh. Trán Nguyễn Văn Thiệu lấm tấm mồ hôi. Viên phụ tá tổng thống lấm tấm mồ hôi. Nguyễn Khắc Bình cũng lấm tấm mồ hôi. Nhưng cái trán nhăn nhúm của gã sĩ quan tình báo Mỹ lại khô ráo một cách khiêu khích.

Thiếu tướng Bình đọc xong bản báo cáo, liếc mắt nhìn trộm gã Mỹ, nhìn trộm Thiệu rồi nói thêm:

- Trình Tổng thống, tôi có linh cảm gã sinh viên Vũ Quang Hùng – kẻ điều khiển vụ ám sát là Việt cộng mặc dù các lời khai của y luôn phủ nhận sự liên quan.

- Căn cứ vào đâu mà anh có linh cảm đó? - Thiệu hơi chồm người lên.

- Trình Tổng thống, theo các báo cáo của mạng lưới an ninh cho thấy, y thường xuyên gặp gỡ một nhân vật mà ta và báo chí quốc tế đã từng quan tâm.

- Ai? - Thiệu nhướng mày.

- Trình Tổng thống, đó là tên Nguyễn Minh Trí – Ngập ngừng giây lát, Bình nói tiếp – Trí là một trong năm sinh viên tố cáo chế đô lao dù Côn Đảo tại Hạ viện vào ngày hai mươi bốn tháng năm năm bảy mươi mà báo chí quốc tế làm ầm ĩ. Điều đáng lưu ý là, trước khi xảy ra vụ ám sát giáo sư Bông vài tuần, đương sự có lảng vảng gần dinh thự giáo sư Bông ít nhất hai lần.

Bình lấy từ trong cặp hồ sơ ra vài bức ảnh chìa về phía Thiệu. Thiệu cầm lên săm soi rất kỹ. Bức ảnh đầu tiên cho thấy một thanh niên rất trẻ, ăn mặc theo kiểu hippi, dáng cao và ốm, mang cặp kính đen to bản, đang ngồi trên một chiếc Honda 67 nhìn về phía một ngôi biệt thự. Đó là ngôi biệt thự của giáo sư Bông. Sau lưng người thanh niên hippi là một thanh niên khác không nhìn rõ mặt. Bức ảnh thứ hai được cắt ra từ một tờ báo. Đó là bức ảnh chụp 5 sinh viên tại trụ sở Hạ viện. Trong số 5 sinh viên, có một gương mặt rất giống người thanh niên ngồi trên chiếc Honda 67 trong bức ảnh thứ nhất.

- Nhưng thằng Trí thuộc lực lượng sinh viên quật phá chứ có phải là Việt cộng đâu? - Thiệu nhíu mày.

- Trình Tổng thống, có chứng cứ cho thấy Trí đã từng vào mật khu Cộng sản ở Đức Hòa, Đức Huệ thuộc tỉnh lỵ Hậu Nghĩa ngay sau trận tấn công Tết Mậu Thân năm Sáu tám hơn một tuần lễ. Tiếc rằng ta không có bằng chứng cụ thể. Nếu bắt Trí, tôi e rằng… - Bình liếc mắt về phía viên sĩ quan tình báo Mỹ, ngập ngừng để tìm từ phù hợp - … E rằng… phía đồng minh cho là ta đàn áp sinh viên.

Thiệu liếc xéo về phía gã sĩ quan tình báo Mỹ:

- Ông có nghĩ thế không?

Gã Mỹ nhún vai:

- Trong trường hợp này, cho dù những kẻ ám sát không nhận mình là Việt cộng thì ta cũng phải biến chúng thành Việt cộng để giải độc dư luận. Ngài nên nhớ dư luận đã cho rằng ngài tổ chức ám sát ngài giáo sư để giữ quyền lực với Hoa Kỳ. Hãy tặng Việt cộng thành tích này.

Thiệu khó chịu vì cách nói của gã Mỹ nhưng ông ta cố giữ vẻ điềm nhiên ra lệnh cho Bình:

- Hãy tổ chức công bố báo chí rằng, Vũ Quang Hưng khai nhận nghe lời xúi giục của Nguyễn Minh Trí ám sát giáo sư Bông. Anh hãy làm một bản cung giả cho cánh ký giả thấy Hùng khai tên Trí là một Việt cộng nguy hiểm đang có danh sách ám sát tuần tự Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, tôi và… - Nhìn quanh thấy phiên phụ tá an ninh đang cắm cúi ghi chép, Thiệu nói tiếp – Và Đặng Văn Quang, phụ tá Tổng thống. À, cho tướng Cao Văn Viên vào luôn danh sách.

Bình thở phào:

- Trình Tổng thống, vâng.

- Tôi cho anh một tuần chuẩn bị tài liệu giả để căn cứ cho báo giới. Hãy tóm đầu tên Trí trước khi họp báo.

- Trình Tổng thống, vâng.

- Được rồi. Anh có thể về.

- Trình Tổng thống, vâng.

Nguyễn Khắc Bình nhẹ nhõm. Ánh mắt ông ta lộ vẻ mệt mỏi rõ rệt.

Khi Bình vừa khuất sau cánh cửa, Thiệu nói bâng quơ:

- Trong khi Việt Nam Cộng hòa đang cố hết sức chống chọi với Cộng sản thì Tòa Bạch Ốc lại tìm cách bắt tay với Bắc Cộng.

Gã Mỹ nhếch mép:

- Tôi rất hiểu và cảm thông tâm trạng của ngài Tổng thống nhưng ngài Tổng thống không chịu hiểu và thông cảm tâm trạng của Washington . Washington đang cần hòa bình. Người dân Mỹ không muốn con em họ tham chiến ở ViệtNam nữa. Người dân Mỹ đang đòi hỏi quân đội Mỹ rút về nước. Đáp ứng nguyện vọng đó, buộc lòng Tòa Bạch Ốc phải thu xếp rút lui có trật tự khỏi chiến trường Việt Nam . Để giải độc danh dự, Tòa Bạch Ốc cần có một thỏa hiệp tại hòa đàm Paris . Cũng giống như ngài đang tìm cách giải độc vụ ám sát giáo sư Bông thôi. Bây giờ, Việt Nam Cộng hòa và Mỹ đang cùng trên một chuyến tàu giữa đại dương, nếu Việt Nam Cộng hòa muốn rẽ trái trong khi Mỹ đang rẽ phải thì chỉ có một cách duy nhất: Việt Nam Cộng hòa phải nhảy khỏi con tàu…

Thiệu thoát tay ngắt lời gã Mỹ:

- Ồ! Ông không cần phải dạy Tổng thống một nước phải làm gì. Ông chỉ cần giải thích vì sao…

Cánh cửa phòng họp bật mở cắt ngang giữa chừng câu nói của Thiệu. Bà Sáu vợ Thiệu bưng chiếc khay chè bước vào nhún mình nghiêng đầu chào mọi người. Chiếc áo dài vàng có thêu cặp rồng khiến bà trông giống một bà hoàng hậu nhưng cái điệu bộ bưng khay chè lại khiến bà giống một cung nữ. Dù sau, sự xuất hiện của bà cũng làm ánh sáng trong phòng họp giữa đêm khuya bớt đi màu ảm đạm.

Thấy vợ xuất hiện, Thiệu ỉu xìu ngồi xuống chiếc ghế nệm, cố ra vẻ mệt nhọc. Gã người Mỹ đứng lên, nghiêng mình chìa tay nhận chén chè đậu đen từ tay bà Sáu, nói nịnh:

- Ồ! Nhờ có một bông hoa xinh đẹp này làm nội tướng nên ông Tổng thống mới đủ tâm trí “bình thiên hạ”. Ông Tổng thống được Chúa ưu đãi hơn mọi người.

Bà Sáu ném tia nhìn từ đôi mắt phượng về phía gã Mỹ:

- Tôi làm sao dám sánh với hoa khôi chiêu đãi viên hàng không của ông Phó tổng Kỳ. Năm nay là năm con chuột, tức năm tuối của ông nhà tôi. Nghe nói, mấy ngài ở Tòa Bạch Ốc muốn tôi phải nhường cái áo hoàng hậu cho bà Kỳ.

Bà Sáu ám chỉ việc Mỹ có ý đồ lấy Kỳ thay Thiệu.

Thiệu đứng lên ôn tồn nói với vợ:

- Thôi, bà cho anh em tôi được bàn tiếp chuyên đang dang dở.

Hiểu ý, bà Sáu đặt khay chè cho Quang – viên phụ tá an ninh – vẫn đang ngồi cắm mặt vào quyển sổ tay ghi chép gì đó rồi vừa mở tủ rượu vừa nói với gã người Mỹ:

- Tánh bà nhà tôi vậy đó. Cứ ruột để ngoài da, nghĩ sao nói vậy - Thiệu nhấp một hớp rượu rồi chuyển ý – Các ông không hiểu Bắc Việt bằng chúng tôi. Nếu tôi chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris tức là tôi chấp nhận thế hợp pháp của chính phủ Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Chấp nhận điều đó, tức là chúng tôi khai tử mình. Tôi tha thiết mong các ông nghĩ lại. Quân lực Việt Nam Cộng hòa chúng tôi đủ sức chặn đứng các cuộc tấn công của Bắc Việt, thậm chí có thể vượt sông Bến Hải mà không cần có quân lực Hoa Kỳ. Miễn là chúng tôi được viện trợ đầy đủ về đạn dược, khí tài chiến tranh và đôla. Hãy tin điều đó. Chúng tôi đã tăng cường bảo vệ Quảng Trị bằng cách thành lập sư đoàn 3 vào tháng 10 năm ngoái. Mới hôm qua, tôi đã triệu tập tướng Viên, tướng Lãm, tướng Giai để chốt lại kế hoạch phòng thủ Quảng Trị. Khi Quảng Trị vững, chúng tôi sẽ vượt sông Bến Hải và ép buộc Bắc Việt phải rút lại yêu cầu sự có mặt của phái đoàn Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra khỏi bàn hòa đàm Paris.

Gã Mỹ bình thản múc từng muỗng chè cho vào mồm vừa nghiêng đầu lắng nghe Thiệu nói. Chờ cho Thiệu lấy hơi, gã chen vào:

- Nếu quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đủ sức đương đầu với quân Cộng sản thì quân đội Mỹ không cần hiện diện tại đất nước này. Để chúng tôi có cớ rút quân ra khỏi Việt Nam , giải pháp hòa bình là tốt nhất. Ông hãy yên tâm chấp nhận giải pháp hòa đàm Paris . Nếu quân đội Bắc Việt Nam tiến sâu về phía Nam thì Hà Nội sẽ trở về thời kỳ đồ đá bởi lực lượng B52 của chúng tôi. Chúng tôi vẫn sẽ phải viện trợ toàn diện cho Việt Nam Cộng hòa.

Thiệu nhăn mặt:

- Nếu Hoa Kỳ ngưng viện trợ cho chúng tôi thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập nhường miền Nam cho Cộng sản.

Gã người Mỹ xoa tay sau khi nhấp nháp miếng chè cuối cùng:

- Tôi xin nói cho Tổng thống biết trước những thông tin mà đại sức chúng tôi sẽ thông báo cho Tổng thống trong nay mai. Dù muốn dù không, ngài phải chấp nhận sự tồn tại hiển nhiên của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại miền Nam. Quân đội Bắc Việt tức lực lượng quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không rút về phía Bắc sông Bến Hải đâu.

Nguyễn Văn Thiệu đưa hai tay lên trời:

- Hoa Kỳ muốn chúng tôi giao miền Nam cho Cộng sản?

Gã người Mỹ móc khăn tay ra chùi mép:

- Tôi chỉ là một nhân viên tình báo Mỹ có thiện cảm với Tổng thống. Tôi chỉ cho ngài biết những thông tin còn bí mật chứ tôi không thể giải thích những thông tin đó. Xin nói thêm là, nếu ngài không chấp nhận điều kiện tôi đã nói lúc nãy, buộc lòng chính phủ Hoa Kỳ phải loại bỏ ngài.

Thiệu và Quang nhìn nhau.

Gã người Mỹ nói tiếp:

- Tôi đang cân nhắc đến việc nói tiếp cho ngài Tổng thống nghe về một kế hoạch tối mật của Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ, liên quan đến sinh mạng của Tổng thống. Thông tin bí mật này, nếu tôi bán cho một tờ báo, tôi sẽ được một khoản tiền thù lao đủ để đi du lịch với một cô gái xinh đẹp vài năm trời ở châu Âu. Tổng thống có cần nghe thông tin này không?

Thiệu đỏ mặt:

- Kế hoạch một cuộc đảo chánh?

- Đúng. Và tôi đang cân nhắc xem có nên nói miễn phí với Tổng thống không?

Thiệu nhìn Quang hất hàm. Hiểu ý, Quang rút từ trong cặp táp ra một ngân phiếu đưa cho Thiệu ký tên.

Sau khi cầm tờ ngân phiếu, gã Mỹ rút từ trong áo của gã ra một phong bì chìa cho Thiệu:

- Đây là bản sao chỉ thị mật của Kissinger gởi cho đồng nghiệp tôi là Roger Morris và Tony Lake . Chỉ thị này nhằm đối ph1o với việc Tổng thống cương quyết từ chối ngồi vào bàn đàm phán Paris . Bây giờ, có lẽ tôi nên về để Tổng thống và ông phụ tá nghiên cứu tài liệu.

Gã Mỹ đứng lên chìa tay cho Thiệu bắt. Không bận tâm chút nào đến việc đưa tiễn gã Mỹ ra cửa, Thiệu nôn nóng xé chiếc phong bì.

Ngay sau khi liếc vài hàng trong trang đầu tiên, Thiệu đã xây xẩm mặt mày ngồi phịch xuống, chìa hồ sơ cho Quang đọc tiếp:

- … Tận dụng mọi khả năng quan hệ kể cả sử dụng đô la với các tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa để chuẩn bị một cuộc lật đổ… Hạn chót để có kế hoạch hoàn chỉnh gởi về Hội đồng An ninh quốc gia là ngày 21.10.1972. Ký tên Kissinger.

Thiệu nhìn Quang thẫn thờ:

- Bọn Mỹ đã ép tôi vào đường cùng. Liệu ta còn thời gian bao lâu để cù cưa trì hoãn việc ngồi vào bàn đàm phánParis chết tiệt kia?

Quang nhún vai:

- Đến tháng mười năm nay.

Trong lúc Thiệu xanh xám mặt mày thì gã Mỹ ung dung chui vào một chiếc xe du lịch.

Trước khi khởi động máy rời dinh Độc Lập, gã lôi từ dưới ghế nệm ra một cái máy truyền tín hiệu rồi gõ một bản báo cáo ngắn: “Đã hoàn tất nhiệm vụ hù dọa hoàng đế. Sis. Ông ta đang sợ chết khiếp. Sis.”

Gã mỉm cười khoái trá khi nhớ đến khoản tiền trong ngân phiếu của Thiệu đưa. Gã thầm nghĩ: “Cái nghề tình báo chính trị hái ra tiền quá dễ dàng nếu biết làm cá hai mang”.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

Năm

Trên ban công tầng hai ngôi biệt thự xây theo lối kiến trúc La Mã, cô con gái rượu của trung tướng Hoàng đang đứng tựa người vào lan can, mắt mơ màng nhìn xuống chiếc cổng sắt chờ đợi. Anh ta đã trễ giờ hơn 5 phút.

Ánh nắng chiều đã ngả màu vàng vọt yếu ớt và sắp khuất sau những ngọn nhà phố sắp lớp nhấp nhô. Tiếng đàn mandoline vẳng ra những điệu nhạc du dương từ chiếc máy hát đĩa đặt trong phòng không đủ sức lôi kéo ánh chiều trở nên tươi hơn. Cô gái thở dài thườn thượt. Cô không biết mình đã yêu chưa nhưng cô biết chắc trái tim mình luôn lỗi nhịp mỗi khi anh đứng trước mặt cất cao giọng phân tích những công thức toán học.

Cô bồi hồi nhớ lại cái ngày đầu tiên gặp anh.

Hôm ấy, đi học về cô bất ngờ gặp anh đang ngồi đối diện với mẹ nơi phòng khách. Bộ đồng phục nam sinh, mái tóc cắt cao khiến gương mặt hơi ngố, cái dáng cao kều và còm nhom ngồi cứng ngắc trên ghế nệm của anh khiến cô mắc cười không kiềm chế. Cô biết ngay cái gã khờ ấy sẽ là gia sư của cô. Trong khi cúi đầu chào để khỏa lấp nụ cười khiếm nhã, lòng cô thầm nhủ, chưa chắc anh chàng khờ này đủ học lực để bổ túc kiến thức cho cô – một kẻ được bạn bè trong lớp đặt cho biệt hiệu “máy điện toán biết làm điệu”. Vì cô là một trong những nhân vật giỏi toán có tiếng. thật ra, cô đòi mẹ tìm cho một gia sư không phải để nâng cao kiến thức mà để test thủ khả năng anh chàng gia sư. Và đã có 2 gia sư bỏ của chạy lấy người ngay sau buổi dạy đầu tiên. Để thu hút nhiều “con mồi” cho cuộc chơi, cô đã yêu cầu mẹ đến trung tâm giới thiệu gia sư sinh viên hứa trả mức thù lao gấp 10 lần so với mức thù lao chung.

Ngay buổi chiều đó, anh được đến để dạy buổi đầu tiên, đúng hơn là để cô chơi trò thi đố kiến thức toán học. Thế nhưng, buổi học đó, chính cô lại là người thua cuộc. Anh điềm tĩnh không vội vã, tuần tự giải hết những bài toán hóc búa cô đưa ra. Cô chưng hửng khi phát hiện ra mình chưa đủ khả năng hạ gục anh trong toán học.

Đến buổi học thứ hai, anh vào đề ngay bài học, không nói thừa một lời. Vừa hết giờ học, cho dù đang dang dở bài giảng, anh tuyên bố hết giờ rồi xoay lưng đi thẳng không một chút chần chừ. Buổi học thứ ba, thứ đều như thế. Khi cô yêu cầu nán lại, anh nhìn đồng hồ tính giờ thù lao phụ trội. Suốt những buổi học, anh không trả lời những câu hỏi ngoài toán học của cô. Trong khi cô giải toán, anh bước ra ban công ngắm nhìn phố xá bên dưới. Những nụ cười hóm hỉnh, nũng nịu của cô bị anh dập tắt ngay bằng ánh mắt nghiêm nghị.

Gần kết thúc tháng học đầu tiên, cô bắt đầu chán nản vì cuộc chơi của mình đang trở thành những buổi học thật sự. Coo không muốn thế. Cô muốn mình tự khám phá những kiến thức có sẵn chứ không muốn gò ép mình nhồi nhét. Cô ghét anh vì anh đã phá trò chơi của cô.

Cô nói thẳng suy nghĩ ra với anh. Lần đầu tiên anh mỉm cười và chấp nhận nói chuyện ngoài bài giảng: “Tôi biết em muốn vậy. Hai người bạn đã kể về lý do bỏ cuộc cho tôi nghe. Vì những yếu tố đó, tôi đã yêu cầu mẹ em ký hợp đồng dài hạn một năm. Trong hợp đồng đó có ràng buộc rằng, không vì mọi lý do bất khả kháng nào hai bên được phép thỏa thuận hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn kết thúc. Em phải chấp nhận cuộc chơi này thôi”.

Chờ anh về rồi cô mới bật khóc vì tức tối, vì thua cuộc, vì lòng kiêu hãnh bị người khác xúc phạm hợp lý và cũng vì bất lực trước đối thủ.

Lòng kiêu hãnh của cô con gái một vị tướng đã thúc giục cô tìm kiếm kẽ hở của đối thủ đề hòng gỡ gạc. Trong khi chua tìm được sơ hở, cô đành chịu khuôn phép của anh trong những buổi học.

Một hôm, cô lấy chồng báo cũ của ba lục tìm những bài thơ tình để bổ sung vào tập thơ sưu tầm của mình. Tuy chưa bao giờ để mắt đến những bài báo chính trị, xã hội nhưng lần này mắt cô phải dừng lại trước một tờ báo năm ngoái có đăng ảnh 5 sinh viên vừa được ra tù. Cô giật mình khi trong thấy anh là một trong 5 sinh viên trên bức ảnh. Cô háo hức trước phát hiện và chăm chú đọc. Lần theo chú thích, cô thấy cái tên Nguyễn Minh Trí đích thị là tên anh.

Báo Tin Sáng ngày 2.7.1970:

Thiên phóng sự điều tra “Tố cáo sự tàn bạo của chuồng cọp Côn Đảo” của nhà báo Don Luce và nhà báo John Helmil đăng trên tạp chí Time khiến 2 dân biểu Hạ nghị viện Hoa Kỳ là ông Williamm R Anderson và ô August Hawkins tổ chức cuộc họp báo và đệ trình lên Hạ nghị viện tại Tòa Bạch Ốc về sự tàn bạo của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tại Nam Việt Nam.

Ngày 24.5.1970, 5 sinh viên gồm Cao Nguyên Lợi, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Thanh Tòng, Nguyễn Minh Trí, Trần Văn Long từ chuồng cọp Côn Đảo trở về tố cáo chế độ nhà từ của Việt Nam Cộng hòa trước Hạ nghị viện Sài Gòn. Nguyễn Minh Trí là một học sinh tuổi vị thành niên đã tham gia biểu tình đấu tranh yêu cầu hòa bình, đòi hỏi dân sinh, dân chủ bị bắt giam và đưa ra chuồng cọp Côn Đảo một cách trái luật, phi hiến. Trí bị giam ở Côn Đảo chỉ vì dám phát biểu nguyện vọng của mình. Sau khi được thả ra khỏi chốn địa ngục ấy. Nguyễn Minh Trí cùng 4 tù nhân sinh viên khác đã tố cáo chế độ lao tù hà khắc của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Từ những lời phát biểu tố cáo của Nguyễn Minh Trí, ngày 30.6.1970, phái đoàn dân biểu Mỹ và báo chí quốc tế ra Côn Đảo tìm hiểu sự thật. Họ đã tận mắt thấy những tù nhân bệnh tật, bại liệt, những cụ bà, thiếu phụ và trẻ em yếu đuối đang bị giam nhốt bởi chế độ lao tù tàn bạo. Họ vừa bị hành hạ, đàn áp, còn đang nằm nguyên trên vôi bột với những tấm thân tàn phế, ốm gầy chờ chết.

Nhà báo Mỹ Don Luce kể: “Chúng tôi được học sinh Nguyễn Minh Trí cung cấp tin tức về chuồng cọp Côn Đảo; Nó khắc nghiệt, nó dã man như thế nào, chưa biết? Khi đến Côn Đảo, tôi cầm trên tay tấm bản đồ do tù nhân người Minh Trí vẽ lối vào chuồng cọp. Chợt nhớ lời của anh sinh viên Việt Nam này là phải tìm một bức tường có cửa nhỏ bên một vườn rau xanh. Một nghị sĩ trong đoàn chỏi chúa đảo Nguyễn Văn Vệ: “Nghe nói trong tù các anh vẫn có thể trồng được rau xanh cải thiện cho người tù?”. Vệ nghe thế thích chí dẫn mọi người tới bức tường (có cửa nhỏ) như sinh viên đã mô tả, nhưng không thấy cánh cửa nhỏ đâu mà chỉ thấy một vườn rau xanh ngắt. Một người trong đoàn hỏi Vệ: “Rau xanh này là rau gì?”. Vệ nghĩ thầm người Mỹ không rành tiếng Việt, nói đại là “Rau muống”. Thật xui cho tên chúa đảo, tôi là người Mỹ sống rất lâu ở Việt Nam . Tôi nói “Không phải! Đây là rau khoai lang”. Ra vẻ như chứng minh lời mình nói, tôi cúi xuống nhổ dây khoai lang, nói: “Củ khoai lang nằm dưới đất ăn rất ngon”. Thật ra, tôi muốn chỉ cho mọi người thấy đám rau này mới trồng để phủ lối mòn vào cánh cửa nhỏ. Đoàn nghị sĩ yêu cầu mở cánh cửa nhỏ, Vệ bực mình gõ mạnh vào cánh cửa nhỏ nói lớn: “Tôi nói cánh cửa này hư rồi, đã lâu không mở. Để tôi đưa các ông đi vòng qua cánh cửa khác”. Y không ngờ tên cai ngục ở phía bên trong cánh cửa nghe tiếng ba-toong đập cửa của tên chúa đảo, lại tưởng chúa đảo yêu cầu mở cửa, thế là cánh cửa bật ra và sau đó là cả thế giới biết đến chuồng cọp.

Theo bức vẽ của Trí, tôi vô cổng lao Tư rẽ phải, đi vòng phía sau đám rau lang mà tù nhân khổ sai trồng để cải thiện bữa ăn, đến ngay bức tường chắn ngang có một cửa nhỏ để vào bên trong. Nhưng phái đoàn đến đây thì không thấy cánh cửa nào cả mà chỗ đó đã chất một đống củi cao lên bằng đầu tường. Tôi và William R Anderson trèo lên, nhìn vào bên trong thấy những ô đất, có tường bao quanh và Chúa ôi! Có 2 dãy chuồng cọp và những thân hình người xác xơ. Chúng tôi nhảy vào bên trong. Nguyễn Văn Vệ - trung tá Quản đốc cố ngăn chúng tôi lại nhưng không kịp. Cả phái đoàn vào bên trong bằng cách trèo qua đống củi đó. Chúng tôi quan sát mặt ngoài của chuồng cọp thấy có 30 cánh cửa sắt đen ngòm, đối lưng bên kia cũng có 30 ô cửa sắt đen như thế. Bên trong có nhiều tiếng người rên vì đau đớn, lại có cả tiếng phụ nữ và trẻ thơ khóc!

Tôi, John Helmil và 2 dân biểu Hạ nghị viện Mỹ August Hawkins, William R Anderson đã leo lên cầu thang, đi dọc trên đầu tường, hai bên là hai dãy hầm nằm dưới những chấn song sắt, giam cầm những người tù tàn phế, đang nằm trên vôi bột trộn lẫn thuốc sát trùng DDT. Những người tù thân trần trắng vôi, nồng nặc mùi hóa chất độc hại.

Phái đoàn tiếp xúc với những người tù bên dưới chấn song sắt. Họ thều thào: “Chúng tôi đòi được ăn no, được sống tự do”; “Yêu cầu nhà cầm quyền bãi bỏ chế độ khắc nghiệt”. Một tù nhân là Đại đức Thích Hạnh Tuệ lên tiếng: “Tôi là một nhà tu hành cũng bì đày ải như thế này!”.

Dãy chuồng cọp bên kia đang nhốt cả phụ nữ, trẻ em, những người bệnh tật. Sau khi chứng kiến, chụp ảnh để làm bằng chứng, tôi và John Helmil sang chuồng cọp I. Tại đây có trên 300 phụ nữ bĩ giam nhốt trong các ô chuồng cọp, đặc biệt có “má Sáu mù”. Bà đã mù cả đôi mắt không còn thấy đường mà nhà cầm quyền Sài Gòn cũng đày ải bà ra Côn Đảo vào ngày 23.11.1969, giam nhốt tại chuồng cọp hàng tháng nay trong điều kiện khắc nghiệt như thế, không được tắm giặt, ăn uống kham khổ, không thịt cá, rau tươi.

Mọi việc xảy ra nhanh chóng, nên nhà cầm quyền Côn Đảo, nhất là trung tá Quản đốc Nguyễn Văn Vệ không làm sao phaûn öùng kịp, sau đó thì bọn giám thị la hét thúc giục bọn trật tự dọn dẹp tất cả các cần xé vôi bột trên đầu tường các ô chuồng cọp, dẹp đi những khạp nước, phương tiện hành hạ đàn áp tù nhân trong thời gian qua.

Để đối phó, đám cai ngục tại Côn Đảo đưa số chị em phụ nữ lên lao 5, số anh em bịnh tật có 129 người thì được đưa lên trại Sở muối. Sau đó, 2 dãy chuồng cọp được phá tung phần nóc, một hình thức phi tang dấu vết tội ác. Họ muốn đẩy số tù bệnh tật tàn phế lên trại giam Sở muối, dùng ánh nắng mặt trời gay gắt ở sát biển để cho những làn da xanh mét gầy còm bò lết này phải đen đi vì sạm nắng, hòng xóa đi những khắc nghiệt của chốn địa ngục trần gian…

Nước mặt cô rơi lã chã ướt đẫm cả tờ báo. Cô không ngờ trong lúc mình hưởng thụ cuộc sống thiên đàng trong ngôi biệt thự này thì có những con người đấu tranh cho quyền được sống thanh bình của mọi người lại bị giam cầm đối xử tàn tệ đến như vậy. Trong phút chốc, cô thấy anh thật phi thường và đáng ngưỡng mộ. Hóa ra, anh không thuộc dạng người để cô trêu chọc, đùa cợt mà chính cô mới là kẻ đáng bị xem thường.

Cô đã từng nghe thấy lời rủ rê tham gia những cuộc xuống đường của bạn bè cùng trường. Nhưng mỗi lần như thế cô đều làm ngơ. Cô không quan tâm đến những gì ngoài cuộc sống êm đềm đang bao bọc xung quanh cuộc đời. Thậm chí cô còn dè bỉu những cuộc xuống đường biểu tình đó bằng những câu xác định: Lũ xuẩn ngốc mới làm điều đó. Hòa bình hay chiến tranh là chuyện của những người làm chính trị chứ không phải chuyện của học sinh.

Từ khi phát hiện bài báo 5 học sinh tù nhân Côn Đảo, cô bắt đầu nhận ra xung quanh mình có quá nhiều bất công. Cô bắt đầu biết đọc báo và xem tin túc trên tivi. Dần dà, cô nhận thấy có điều gì bất ổn đang xảy ra trên đất nước của mình đang sống. Cô hốt hoảng khi biết bấy lâu nay mình sống quá sung sướng trong một tòa lâu đài ích kỷ. Trong đó, cô là một ả công chúa chỉ biết hái hoa bắt bướm.

Những buổi dạy của anh trở nên có ý nghĩa rất lớn đối với cô. Cô bắt đầu biết quý giá những buổi anh dạy. Cô muốn làm điều gì đó để chuộc lại thái độ không đúng đắn của mình. Nhưng cô chẳng biết phải làm gì để tạo cơ hội cho mình.

Hôm nay, cơ may đã đến. Ba cô đi tìm thăm một vị tướng hưu ở dinh Hoa Lan trở về nhà trong trạng thái mệt mỏi. Cô nghe loáng thoáng bả kể với mẹ là sáng mai sẽ có một vụ bắt bớ. Kẻ bị bắt chính là một trong 5 sinh viên đã từng tố cáo chế độ lao tù Côn Đảo. Ba cô đăm chiêu, thở dài nói với mẹ cô: “Chế độ này đang suy tàn rồi. Tổng thống yêu cầu cảnh sát chụp mũ cho gã nhóc sinh viên này cái tội giết giáo sư Bông và một loạt vụ ám sát trước đó để khẳng định gã nhóc bị bắt đày ra tù Côn Đảo là đúng. Ông ta đem mạng sống của thằng nhóc này làm vật tế thần để cầu an cho địa vị tổng thống của ông ta. Tôi ngao ngán vì phải phục vụ cho cái chế độ thối rữa này”. Ba cô nói thêm, lần này, gã nhóc sẽ phải gánh tội tổ chức ám sát các ông Lê Minh Trứ, Tổng trưởng Văn hóa giáo dục và thanh niên bào ngày 6 tháng 1 năm 1969; Ông Lê Diệu Luận, Phó chủ tịch nhân dân tự vệ phường Chợ Quán; Ông Văn Diễn Quang, Trường văn phòng đặc vụ Đài Loan ngày 6 tháng 4 năm 1959, Nghị viên đô thành ngày 19 tháng 6 năm 1969, Hà Thành Tín phụ trách Phân cục cảnh sát quận 6 tháng 7 năm 1969… Và cũng là kẻ tổ chức tấn công Phân cục cảnh sát ngụy quận 10, Phân cục cảnh sát quận 5.

Ba cô không hề biết, cái gã “nhóc sinh viên” ấy chính là anh, người hàng ngày đến tận nhà để dạy kèm cô. Từ một trung tướng cầm quân, ba cô đã bị buộc nghỉ hưu gần 10 năm nay nên không biết được những chuyện xảy ra ở chính trường. Mẹ cô thì không bao giờ quan tâm đến tin tức nên cũng chỉ biết anh là gia sư được thuê để dạy kèm.

Cô chìa tờ báo có đăng vụ 5 sinh viên tố cáo chế độ lao tù ra trước mặt anh. Ngược với suy đoán của cô, anh không tỏ vẻ ngạc nhiên mà còn bình thản hỏi:

- Tin này đã cũ hơn một năm rồi, bây giờ cô mới biết?

- Không. Mẫu tin cũ này chỉ là tiền đề cho một loạt hệ quả hiện tại. Anh sắp bị bắt.

Cô kể nhanh những gì ba cô nói với mẹ cô lúc ban trưa. Anh chăm chú lắng nghe bằng thái độ nghiêm túc. Khi cô nói xong, anh nhìn vào mắt cô:

- Sao em không cho ba biết tôi là nhân vật chính trong câu chuyện của ông? Ba em đang là một công thần của chế độ mà.

Ngạc nhiên vì anh không tỏ ra sợ hãi, cô nói:

- Em không có thói quen tự phân tích hành vi của mình. Em chỉ nghĩ mình đang là đúng. Tại sao anh không bỏ trố ngay bây giờ? 

Anh nhún vai:

- Rất cám ơn em đã cho biết tin này. Ngày mai tôi mới bị bắt chứ không phải bây giờ. Hy vọng sau này, em sẽ là một trong những người bạn tốt cùng đứng chung một phía.

- Em là con gái một vị tướng Việt Nam Cộng hòa, một vị đại sứ, em không thể đứng cùng hàng ngũ với những người Cộng sản.

Anh mỉm cười:

- Không phải tất cả những sinh viên, học sinh, những bạn bè ta xuống đường biểu tình đều là Cộng sản. Họ xuống đường vì hòa bình, dân sinh, dân chủ và tự do cho dân tộc, cho quê hương này. Tôi không đề nghị em phải làm Cộng sản.

Dứt lời, anh nhìn sâu vào mắt cô một lần nữa, nói giọng trầm:

- Bây giờ tôi phải đi và tôi mong có dịp cùng em hòa ca với bạn bè bài nối vòng tay lớn.

Cô chưa kịp nghĩ ra điều gì để trả lời, anh đã khuất sau cánh cửa. Cô bâng khuâng đưa tay vén mái tóc đang lòa xòa trước trán để tầm nhìn rộng hơn.

Bên ngoài phố, trong một chiếc taxi đậu cách chiếc cổng sau ngôi biệt thự vài chục mét, gã tài xế dán chặt mồm vào chiếc tổ hợp điện đàm:

- Đom đóm vẫn còn trong rừng. Over!

Từ chiếc tổ hợp, giọng một cô gái õng ẹo vẳng ra âm lượng vừa đủ để gã nghe rõ nhưng không đủ lớn hơn để thoát khỏi chiế taxi:

- Yêu cầu dự đoán cụ thể thời gian đom đóm trong rừng. Over!

Gã lái taxi bực mình gắt:

- Thường lệ là hai giờ. Đề nghị tổ đại bàng bớt… ngu lại tí xíu. Over!

Chiếc điện đàm bùng nổ:

- Thằng nào dám chửi tôi ngu vậy? Lo làm cho tròn trách nhiệm theo hướng dẫn của tôi. Tôi báo cáo thái độ công tác của anh là anh sẽ được dịp đi rình mèo đẻ. Over!

Gã lái taxi bực mình ném chiếc tổ hợp xuống sàn xe, văng tục một tràng rồi móc thuốc lá châm lửa hút lấy hút để. Bất chợt gã ho sặc sụa khi trông thấy cô con gái tướng Hoàng đang mở cánh cổng sắt cho Minh Trí dắt chiếc xe gắn máy Honda 67 ra.

Gã không ngờ hôm nay Minh Trí  rời khỏi nhà tướng Hoàng sớm hơn thường lệ rất nhiều. Do bất ngờ, gã cập rập khởi động chiếc taxi. Vừa ho sù sụ cho khói thuốc thoát ra khỏi buồng phổi, gã vừa đánh tay lái nhấn ga phóng theo chiếc xe gắn máy.

- Đom đóm bất ngờ rời khỏi rừng. Over!

- Tìm hiểu đom đóm đi đâu. Bây giờ thì ai ngu? Over!

Gã vẫn ho sặc sụa. Nước mắt trào ra khiến tầm nhìn của gã mờ đục. Nếu chiếc xe gắn máy biến mất giữa dòng xe cộ, sự nghiệp tình báo của gã kể như kết thúc. Gã sẽ úa đời vì bị điều chuyển về nhân viên một trại giam.

Như không hề biết bị theo dõi, Minh Trí ung dung chạy ga nhỏ vòng vèo qua nhiều con đường lớn. 15 phút sau, anh chui xe vào một con hẻm trên đường Tôn Thất Hiệp.

Gã lái taxi đã bớt ho và căng thẳng, bình tĩnh báo cáo:

- Đom đóm về vườn bình an, không lo lắng. Over!

Ở một căn phòng kín trong Tổng nha cảnh sát, viên đại tá chỉ huy cuộc theo dõi thở phào nhẹ nhõm, nói với những người có mặt:

- Vậy là con mồi không biết mình sắp bị săn đuổi. Vẫn giữ nguyên kế hoạch. Đêm nay canh gác cho nó ngủ thật ngon. Sáng mai rước nó về. Con mồi sổng là tất cả chúng ta sẽ đối mặt với cơn thịnh nộ của tướng Bình đó.

Không cần ngoái đầu lại, Trí cũng biết mình đang là mục tiêu theo dõi của mật vụ.

Anh hoàn toàn tin những lời Nhi – con gái tướng Hoàng – nói. Vì từ tối hôm qua anh cũng đã nhận được tín hiệu báo nguy khẩn cấp của giao thông viên. Nước đã đến chân nhưng anh không thể nhảy ngay được. Anh có thể rời ngay vị trí để về cứ một cách an toàn. Có nhiều lý do để anh chần chừ. Lý do căn bản nhất là anh không tin Ba Điệp đã khai ra mạng lưới tổ chức trinh sát vũ trang B5(*). Anh biết rõ Ba Điệp là một chiến sĩ gan dạ, kiên trung, chấp nhận chết chứ không bao giờ phản bội lại tổ chức. Nếu Ba Điệp khai thì đâu chỉ mình anh mà rất nhiều người trong hệ thống An ninh Khu ủy Sài Gòn – Gia Định đang hoạt động hợp pháp đã bị bắt. Thế nhưng kể từ ngày Ba Điệp và Ba Châu bị bắt đến nay đã một tháng, chưa cơ sở nào bị địch bắt cả, chỉ duy nhất C4 quá lo xa nên về cứ sớm. Ba Điệp là người hiểu rất rõ nhiệm vụ ám sát Nguyễn Văn Bông là nhằm vào mục đích chia rẽ, tạo sự nghi ngờ trong nội bộ địch. Nếu Ba Điệp khai nhận mình là Cộng sản tức là Ba Điệp đã giải tỏa được sự chia rẽ của địch. Ba Điệp không khai nhận thì thế cờ thắng vẫn thuộc về Ba Điệp, thuộc về tổ trinh sát vũ trang. Anh không tin Ba Điệp đầu hàng. Điều duy nhất có thể xảy ra là địch muốn dựng một màn kịch, trong đó, Ba Điệp đã khai ra duy nhất một cái tên. Đó là anh.

Sau cú bị tố cáo chế độ lao tù Côn Đảo vô nhân, Thiệu rất bẽ mặt với báo chí và quốc hội Mỹ. Thiệu rất muốn chứng minh anh là Cộng sản để giải tỏa những dư luận chỉ trích mặc dù bấy lâu nay Thiệu chỉ xem anh là đối tượng sinh viên bất mãn chiến tranh, căm ghét chế độ Việt Nam Cộng hòa chứ không xem anh là phần tử Cộng sản.

(*) Ký hiệu của một tổ ám sát vũ trang thuộc Đặc khu Sài Gòn – Gia Định

Bây giờ, anh lẩn trốn ngay sau khi Ba Điệp bị bắt tức là anh đã thông báo cho địch biết mình là Cộng sản. Anh lẫn trốn tức là anh tự nhận mình có liên quan đến Ba Điệp. Nếu không liên can, tại sao anh phải trốn?

Xét góc độ ích kỷ cá nhân, bằng đường dây giao thông dự trữ, anh dễ dàng về cứ và ung dung thụ hường sự an toàn cho riêng mình. Nhưng nếu anh về cứ thì tất cả đường dây liên quan đến anh cũng đều phải rút về cứ hoặc tê liệt. Một sự tổn thất lớn cho tổ vũ trang hoạt động hiệu quả, an toàn như thế, anh và đồng đội đã mất tâm huyết hàng mấy năm trời. Chỉ vì sự nhát gan của anh mà phá huy công sức đó thì quá đau lòng.

Sau khi suy xét nhiều chiều, anh phát hiện một góc nhỏ của vấn đề lóe sáng. Anh cứ chờ địch thực hiện một cuộc bắt bớ cụ thể. Anh lẫn trốn trong tình huống đó mới an toàn cho thế hợp pháp của tổ chức. Trong tình huống đó, anh vẫn giữ được vỏ bọc sinh viên tranh đấu và cái lõi Cộng sản của anh vẫn còn nguyên vẹn. Anh sẽ tìm cách thông báo cho báo chí biết, anh lẫn trốn vì bị bắt chứ không lẫn trốn vì mình liên can đến bất kỳ hoạt động nào của Cộng sản.

Anh mỉm cười phác họa một ván cờ thế, trong đó một nước sai anh sẽ chỉ trả giá bằng sinh mạng mình nhưng vẫn giữ nguyên thế hợp pháp cho tổ chức.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

(Tiếp theo)

Sáu

Nắng mai vừa chuyển sang màu nắng trưa, con hẻm vắng đột ngột thảng thốt bởi hàng chụi xe Jeep cảnh sát dã chiến thắng lết bánh trước ngôi nhà của ông thầy ký bưu chính. Những tràng còi hù hụ ngắc ngoải vang lên khiến ai cũng phải lưu tâm. Những người an phận nhanh chóng chui vào nhà đóng kín cửa. Những kẻ tò mò rụt rè tiến lại gần ngôi nhà bị phong tòa nhóng cổ nhìn vào để xem chuyện gì xảy ra mặc cho những gã cảnh sát lăm lăm dùi cui phồng mang thổi tu huýt reng réc xua đuổi.

Một toán cảnh sát lăm lăm súng đạp cửa xông thẳng vào nhà. Một gã mang lon đại úy đước trước cửa nhà nói bâng quơ với đám đông hiếu kỳ:

- Nhà này có một tên Việt cộng cực kỳ nguy hiểm. Hắn là đồng phạm tổ chức ám sát giáo sư Bông.

Một dì trạc 50 tuổi kè bên nách thúng bánh tét đứng chen trong đám người hiếu kỳ lên tiếng:

- Thì hồi mấy năm trước thằng Trí cũng bị mấy ông cho là Cộng sản. Mấy ông bắt quăng ra chuồng cọp Côn Đảo. Sau đó, bị mấy nhà báo Mỹ phanh phui tố cáo mấy ông bắt lầm người vô tội. Tôi ở xóm này. Tôi chỉ thấy nó là học trò ngoan chứ có thấy nó làm Cộng sản bao giờ. Thiệt tình là thiệt tình! Mấy ông muốn bắt ai thì cứ vu cho họ là Việt cộng thôi.

Một chú ăn mặc lèm nhèm như phu xích lô đứng cạnh dì bán bánh tét, phân bua với mọi người:

- Mấy ổng nói thằng Trí làm Cộng sản thì mấy ổng phải có chứng cứ. Phải hông bà con? Để coi mấy ổng có tìm được chứng cứ gì trong nhà không. Nếu hổng có, đố mấy ổng dám bắt người.

Gã đại úy cảnh sát toàn tranh luận nhưng không biết phải dựa vào đâu, đành hậm hực nói nước đôi:

- Không cần chứng cứ cũng bắt vì chúng tôi đã xác định nó là Cộng sản.

Những người hiếu kỳ cùng lao nhao lên tiếng:

- Vậy là bắt người phi pháp!

Gã đại úy cảnh sát lúng túng trước phaûn öùng của mọi người. May cho hắn, một hạ sĩ cảnh sát từ trong nhà chạy ra dập chân báo cáo:

- Báo cáo đại úy, tên Trí vắng mặt. Chúng tôi đã lục soát khắp nơi nhưng không tìm được…

Gã đại úy lừ mắt cắt ngang lời tay hạ sĩ:

- Báo cáo vậy đủ rồi. Giữ nguyên phong tỏa.

Gã đại úy lẩn vào trong nhà, móc bộ đàm:

- Thiên sứ gọi Phượng hoàng. Over!

Từ tổ họp, giọng tướng Bình gay gắt:

- Đang nghe, báo cáo nhanh gọn.

- Báo cáo Phượng hoàng, mục tiêu biến mất. Tôi đang lục soát. Over!

- Mẹ kiếp! Anh giữ nguyên phong tòa, tôi xuống ngay.

Không hơn 15 phút sau, toán cảnh sát thổi còi inh ỏi để vẹt đám đông cho một chiếc xe du lịch màu đen trũi chui vào hẻm dừng trước ngôi nhà đang bị phong tỏa. Tướng Bình bước xuống xe, mặt hầm hầm trước vẻ mặt thất thần của viên đại úy.

Gã đại úy dập gót chào tướng Bình, miệng lắp bắp như cái máy hát đĩa trầy xước:

- Báo cáo thiếu tướng, chúng tôi đã cố gắng làm hết phận sự và trách nhiệm nhưng… mục tiêu đã biến mất ngoài khả năng kiểm soát…

Tướng Bình hầm hè:

- Hai thằng mật báo viên đâu? Lôi cổ nó lại đây trình diện tôi mau. Theo dõi mục tiêu mà để mất mục tiêu lúc nào không hay biết, là sao?

Gần như ngay lập tức, bọn cảnh sát mặc sắc phục lôi xệch hai gã mặc thường phục mặt mày xám ngoét, run lẩy bẩy đến mức không đứng vững đến trước mặt tướng Bình.

Tướng Bình cầm cây gậy chỉ huy bằng gỗ dí vào trán một gã mặc thường phục, nói qua kẽ răng:

- Tụi mày làm tao hết biết đường báo cáo với tổng thống.

Gã mặc thường phục nói thều thào qua hơi thở hụt:

- Báo cáo thiếu tướng, lúc năm giờ sáng em vẫn thấy nó còn ngồi trong phòng trên gác. Không biết nó trốn lúc nào. Tụi em hoàn toàn không rời vị trí một giây nào cả.

Tướng Bình quắc mắt:

- Lẻo mép tao cắt lưởi bây giờ. Cút khỏi mắt tao!

Tướng Bình giang thẳng cánh tay toan vả vào mặt tên đàn em đang đứng không vững. Một ánh chớp đèn plas lóe sáng đã khiến tướng Bình dừng tay. Ông tác quắc mắt nhìn về hướng ánh chớp.

Một nhóm phóng viên đeo máy ảnh lủng lẳng xông đến phía tướng Bình hỏi dồn dập:

- Xin ông thiếu tướng xác nhận Minh Trí đã trốn thoát khỏi cuộc vây bắt của cảnh sát?

- Có đúng Minh Trí là Việt cộng đã chỉ huy những kẻ ám sát giáo sư Bông?

- Có phải những hung thủ đã bị bắt khai nhận Minh Trí là đồng phạm ám sát giáo sư Bông?

- Sau khi lục soát gia cư sinh viên Minh Trí, thiếu tướng có phát hiện bằng chứng gì chứng tỏ Minh Trí là Việt cộng không?

Như một con cáo rừng già đã quá quen ứng phó trước những tình huống cùng đường, tướng Bình giấu biến sự tức giận với hai gã đàn em sau một nụ cười tươi:

- Sáng nay, chúng tôi mời các ông đến trụ sở Tổng nha cảnh sát để ra thông cáo báo chí chứ có mời các ông đến đây đâu. Thôi, thôi, mười phút nữa tôi sẽ trả lời tất cả những câu hỏi liên quan vụ việc tại Tổng nha. Mong các ông giải tán kẻo Việt cộng ném lựu đạn chết chùm hết bây giờ.

Dứt lời, tướng Bình chui tọt vào chiếc xe du lịch.

Cách đó hơn 100 mét, Trí khoác vẻ ngoài bộ dạng một gã hippi đứng bên trong khung cửa sổ màu tím nhạt trên tầng ba một ngôi nhà, ung dung      quan sát mọi diễn biến xảy ra phía nhà của mình. Anh mỉm cười thích thú màn “kim thiền thoát xác” của mình mới thực hiện.

Chiều hôm qua, sau khi rời ngôi nhà của tướng Hoàng, anh về thẳng nhà mình rồi ở lỳ trong đó. Đến tối, anh cố tình ra ngồi trên bậu cửa sổ trên căn gác. Anh trông thấy rất rõ nét bồn chồn của hai gã mật vụ phía dưới đường. Ván cờ thế được anh bày sẵn và địch đang dấn nước đi theo đúng sự tính toán trước của anh.

Trời mờ sáng, nhân lúc hai gã mật vụ mệt mòi, lơ là, anh chuyền người sang căn gác nhà bên cạnh, thay đổi hình dạng thành một gã hippi, ung dung đi về hướng đầu hẻm rồi rẽ ngoặt vào nhà ông Sinh phó tỉnh trưởng Bến Tre.

Ông Sinh là một trí thức tốt nghiệp luật ở Paris về nước. Thông qua người vợ - là chị ruột của Khánh Duy – ông Sinh nhận lời hỗ trợ Mặt trận vô điều kiện. Nhờ sự hậu thuẫn của lưới tình báo Trung ương Cục miền Nam cài cấy vào nội các Nguyễn Văn Thiệu, ông Sinh được đề bạt lên chức phó tỉnh Bến Tre. Trí chỉ sử dụng địa chỉ nhà ông Sinh trong tình huống nguy hiểm tối thượng. Mặc dù ở cách nhau hơn 100 mét nhưng chưa bao giờ Trí liên lạc với ông Sinh.

Về phần gia đình ông Sinh, kể từ ngày móc nối được với Mặt trận vẫn chưa nhận được bất cứ một chỉ thị nhiệm vụ nào. Cách nay vài ngày, ông Sinh nhận được chỉ thị của Trung tâm: “Chuẩn bị tiếp khách”.

Bất ngờ sáng sớm nay, anh sinh viên cùng xóm đến bấm chuông gọi cửa. Loan – em gái Khánh Duy và cũng là em vợ ông Sinh ra đón gã hippi trong tâm trạng khó chịu. Loan không nhận ra Trí bởi lớp hóa trang quá đạt của anh. Cô nghĩ, một gã hippi lạ mặt mò tới nhà một vị quan chức là điều hiếm thấy trong thời buổi loạn lạc này. Cô nhướn mày hỏi vị khách bằng thái độ thiếu tế nhị:

- Tìm ai ở đây?

Trí chài ngón tay út về Loan:

- Ngón tay tôi bị đau, ghé xin ông phó tỉnh trưởng chút thuốc giảm đau.

Quả tim trong lồng ngực, cô gái trẻ tăng nhịp. Cô nhận ra ngay ám hiệu của “phe ta”. Bấy lâu nay, không chỉ cô mà chị cô và anh rể cô đều trông đợi người của Mặt trận đến giao nhiệm vụ. Mỗi ngày chờ đợi là mỗi ngày gia đình cô áy náy, lo lắng. Thỉnh thoảng, anh chĩ cô hỏi nhau: “Hay là cách mạng đã quên chúng ta?”. Ngay sau đó, câu trả lời được đưa ra như để tự an ủi lẫn nhau: “Có lẽ cách mạng chưa cần đến chúng ta”. Cả ông Sinh, bà Sinh và cô Loan hoàn toàn không biết, Khánh Duy cũng là một đồng chí, một đầu mối chỉ huy của họ.

Sau phút giây mừng rỡ, Loan nghĩ thầm: “Hóa ra cái gã hippi nửa người nửa ngượm này lại là… cấp trên của gia đình mình”. Là một sinh viên Văn khoa, cô luôn khắt khe với bản thân mình về đạo đức và lối sống trụy lạc. Trong thoáng chốc, cô lại nghĩ: “Hay gã này là bọn cảnh sát mật đã lần ra được ám hiệu của tổ chức?”.

Trí nhận ra vẻ nghi ngờ trong ánh mắt cô gái. Đàng kia, một tên mật vụ đã rời khỏi vị trí tiến về phía anh. Bằng đủ mọi giá, anh không để hắn tiếp cận đủ gần để nhận ra anh đang núp trong vỏ ngoài gã hippi. Anh nhìn sâu vào mắt cô gái lặp lại ám hiệu:

- Thưa cô, ngón tay tôi rất đau. Tôi cần ông phó tỉnh trưởng cho thuốc gấp.

Cô gái vẫn đứng sau cánh cổng sắt nhìn anh nghi ngại. Cô không nhận thấy anh đang trong tình huống nguy hiểm. Anh nghe rõ từng tiếng giày của tên mật vụ mỗi lúc càng gần. Hay địa chỉ này đã phản bội và không còn là người của tổ chức? Nếu như vậy, anh không còn cách nào khác là chấp nhận thua cuộc trong nước cờ này.

Không còn gì để mất, anh buông một nước cờ liều. Anh thì thào vừa đủ cho cô gái nghe:

- Anh là Minh Trí, bạn của Khánh Duy nè. Anh đang bị một gã cảnh sát mật bám sau lưng.

Câu nói của anh như một vết cắt, xé toạc tấm màn nghi ngại. Lúc đó, gã cảnh sát mật chỉ còn cách Trí 4 bước chân. Gần như ngay lập tức, Loan vừa mở cổng vừa reo:

- A! Anh Ba mà em không nhận ra. Anh Hai vào dinh Tổng thống từ tờ mờ sáng để họp khẩn cấp chắc trưa mới về. Anh vào nhà đi.

Cô hé cổng và gần như lôi sểnh anh vào bên trong. Gã cảnh sát mật lỡ đà bước ngang qua cổng, liếc mắt nhìn vào rồi nhún vai lẩm bẩm: “Em trai ông tỉnh trưởng mà y như cái ngủ ma cô ma cạo”.

Loanh nhanh chóng đưa anh lên tầng ba ngôi biệt thự để anh quan sát diễn biến xảy ra ở phía nhà anh.

Sau khi nói vắt tắt tình hình của mình, Trí bảo Loan:

- Bây giờ anh cần sử dụng xe công vụ của anh Hai để rời khỏi nơi đây.

Loan hồ hởi:

-  Trời! Em không ngờ anh lại là người của Mặt trận. Chuyện xe thì… anh Hai đã vào dinh Tổng thống từ sáng sớm để họp. Hình như có liên qaun đến vấn đề nhóm sát thủ ám sát Nguyễn Văn Bông. Mấy hôm nay, anh Hai nhận được chỉ thị từ Mặt trận chuẩn bị tư thế đón một người đại diện T4. Thiệt tình là em không nghĩ người đại diện lại là hàng xóm của mình. Anh trong bộ dạng này, em đâu nhận ra – Loan cười thật xinh – Anh Hai trông chờ được góp công sức cho cách mạng từ lâu. Bây giờ mới có dịp. Ảnh có dặn em, khi anh đến, em gọi điện thoại báo cho ảnh ngay. Anh cứ lấy xe ưu tiên của ảnh sử dụng. Anh Hai đã thu xếp xong mọi thứ…

Loan còn muốn nói thật nhiều cảm xúc hân hoan của mình nhưng cô biết trong tình hình hiện tại, cô không được phép phí phạm thời gian.

Sau khi trao cho Trí ly nước cam, cô nhấc điện thoại gọi vào Phủ Tổng thống. Ngay sau đó, Trí nhờ Loan gọi điện thoại thông báo cho một ký giả về vụ cảnh sát bao vây nhà của anh.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

(Tiếp theo)

Bảy

Tại dinh Độc Lập, trong phòng họp đặc biệt, ngoài Nguyễn Văn Thiệu, nội các tổng thống, bộ sậu chính quyền Đô thành Sài Gòn còn có đủ mặt tất cả tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng các tiểu khu thuộc Vùng 3, Vùng 4 chiến thuật, một số dân biểu và báo giới cùng phe cánh. Mục đích triệu tập cuộc họp của Thiệu là thông báo về việc Mỹ ép ông ta ngồi vào bàn hòa đàm Paris , đồng thời chen vào việc cảnh sát sẽ bắt Minh Trí vào sáng nay. Cuộc họp này là một việc làm ngẫu hứng của Thiệu sau mấy đêm mất ngủ.

Thiệu đang tah61y rất rõ cái ghế tổng thống của mình đang bị lung lay bởi áp lực của chính phủ Mỹ.

Gần đây những tờ bào lớn của Mỹ như The New York Times, The Washington Post cứ nhắm vào cái tên Nguyễn Văn Thiệu để chỉ trích chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon. Những bài báo này còn nhắc đi nhắc lại vụ sinh viên Minh Trí tố cáo chuồng cọp Côn Đảo. Nhà báo Don Luce đượ các báo khác phỏng vấn về diễn biến quá trình phanh phui chuồng cọp Côn Đảo như thể đó là chuyện thần thoại nghe hoàn không chán. Đã thế, Don Luce còn tổ chức một nhóm ký giả dịch, in và cổ xúy những tuyển tập thơ của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Huy Cận, Giang Nam . Rồi các nhà báo phương Tây như Jane Fonda, Barbara Dane và Joan Baez vào tận Bắc Việt Nam thực tế viết bài như một thức phong trào. Phóng viên Seymour Hersh còn công bố trên New York Times một loạt ảnh chụp quân đội Mỹ thảm sát thường dân Mỹ Lai ở Quảng Ngãi vào ngày 16.3.1968. Giáo sư sử học Gabriel Kolko thì viết bài “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” phân tích sự tất thắng của Cộng sản Việt Nam và sự thất bại của Hoa Kỳ như một tất yếu tự nhiên. Còn Dave Dillinger và Cora Weiss họp báo ở New York ủng hộ kế hoạch 7 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miềnNam đòi Mỹ rút quân. Tại Âu châu, Úc châu và Phi châu, các hoạt động phản chiến của giới trí thức và truyền thông như Jean Paul Sartre, Madeleine Riffaud, Sara Lidman, Jean Lartéguy, Léopold Senghor, Geneviève Tabouis, Wilfred Burchett cũng làm Thiệu ngộp thở.

Thiệu nhớ lại hồi đầu năm 1966, khi vừa mới ngồi chưa ấm đít trên chiếc ghế tổng thống, ông đã choáng váng khi nhận được một tài liệu do cơ quan CIA Mỹ gởi. Trong tài liệu đó có một lá thư của học giả Huân tước Bertrand Russell gởi cho Hội nghị đoàn kết Á – Phi – Mỹ Latinh ở La Havene ca ngợi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đồng thời kêu gọi hội nghị này thành lập Tòa án Quốc tế xử tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Tháng 5.1967, tòa án này họp phiên đầu ở Stockhom, Thụy Điển gồm 15 thẩm pháp Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Cuba, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Philippines v.v… Tháng 11.1968, tại Roskilde, Đan Mạch, tòa án tuyên Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh xâm lược và ném bom hủy diệt các mục tiêu dân sự là phạm tội diệt chủng. Vụ kiện cái kiến củ khoai này tuy không đi đến đâu về pháp lý nhưng cơ hội tốt cho dư luận thế giới biết cái ngụy của chính quyền mà Thiệu vừa lên làm tổng thống. Lúc đó, người bạn Hoa Kỳ còn hăng tiết vịt chiến tranh. Bây giờ, người bạn ấy như một con gà mắc tóc trước những dư luận quốc tế.

Hơn ai hết, Thiệu biết Mỹ đang tìm cách bỏ của chạy lấy người khỏi Việt Nam . Bỏ chạy một cách… lịch sự có danh dự. Mỹ không muốn mang tiếng thua cuộc. Mỹ cũng không quan tâm đến hậu quả của cuộc bỏ chạy bởi hậu quả ấy đã có cái bia Việt Nam Cộng hòa gánh lấy.

Cái lão diều hâu Kissinger đã bày vẽ đủ trò xung quanh cái mỹ từ “hòa bình trên bàn đàm phán”. Nhưng đàm phán mẹ gì. Cộng sản Bắc Việt, Cộng sản Nam Việt Nam và lão Kiss cứ đòi Thiệu phải chấp nhận một chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, chấp nhận Cộng quân đang thường trú tại miền Nam được ở lại phía dưới vĩ tuyến 17, trong khi quân Mỹ triệt thoái về nước. Cái kiểu đó, xem như Mỹ chấp nhận xóa sổ Việt Nam Cộng hòa rồi còn gì. Mặc dù vẫn cố gân cổ kêu gào quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể đương đầu với Cộng quân nhưng Thiệu quá rành nhuệ khí đám quân tướng của mình. Sư đoàn 3 mới thành lập đã có nguy cơ bị xóa sổ. Tướng ta thì tay nào cũng gào sẵn sàng tử thủ với Việt cộng nhưng chỉ cần nghe một phát súng đã nháo nhào chui đầu vào hầm chổng đít lên trời gọi phi pháo, gọi máy bay Mỹ ểm trợ.

Lại nhớ tới hình ảnh hai cái xác của ông Diệm, ông Nhu bê bết máu trong chiếc xe bọc thép, Thiệu rùng mình. Cái giá cãi lời Mỹ quá đắt đối với anh em ông Diệm vẫn còn là bài giảng có thể lặp lại với Thiệu. Biết thế… nhưng Thiệu đang đứng ở một góc hẻm cụt, khó bước tới mà cũng không thể tháo lui. Nếu nghe lời Mỹ, ngồi vào hòa đàm Paris , tức là Thiệu đã chấp nhận đầu hàng Cộng sản vô điều kiện. Nếu cãi lời Mỹ thì… Thiệu không muốn đi chung xuồng với Diệm. Nếu Mỹ không thanh toán Thiệu bằng một cuộc đảo chính như đã từng làm với anh em Diệm mà rút hết các khoản viện trợ thì Thiệu cũng chết. Những kẻ thuộc phong trào phản chiến có cớ, có lý do đảo chính hoặc ám sát Thiệu không chừng. Thiệu tưởng tượng cảnh mình ôm đầu máu chạy dưới làn mưa đá của đám người biểu tình quá khích mà rùng mình từng chập.

Cửa nào cũng chết, thôi thì Thiệu cũng tìm cho bản thân mình một con đường thoát như ông thấy Mỹ đã làm, tức là bỏ chạy trong danh dự. Thiệu chấp nhận cuộc đàm phán Paris nhưng trước đó Thiệu sẽ la làng với dư luận rằng Mỹ ép uổng mình. Thiệu muốn ra vẻ mình yêu nước, nhưng vì Mỹ thúc ép nên miễn cưỡng chấp nhận. Với lý luận đó, sau khi Mỹ rút, Việt Nam Cộng hòa ngất ngư chết, Thiệu sẽ cùng gia đình bay biến khỏi Việt Nam thụ hưởng khối tài sản được bà Sáu tích lũy từ lâu ở các ngân hàng châu Âu. Lúc đó, dư luận không có cớ chê Thiệu bất tài. Miền Nam mất là do Mỹ. Thiệu thoát tội.

Thiệu triệu tập cuộc họp này để tiến hành kế hoạch “bỏ chạy trong danh dự” của chính mình.

Chờ cho khách mời đông đủ, Thiệu bước lên chiếc bục gỗ đứng cúi gằm mặt nhìn những chiếc micro hồi lâu ra vẻ rất buồn phiền. Ông ta từ từ ngẩng ánh mắt đỏ hoe lên, cố nhão giọng như sắp khóc:

- Hỡi các chiến hữu, các đồng đội đang cùng tôi chiến đấu trước họa xâm lăng của Cộng sản! Vậy là người bạn đồng minh Mỹ của chúng ta đang mưu toan bán đứng chúng ta. Họ đang đâm sau lưng chiến sĩ của ta. Họ muốn ta ngồi chung bàn với Cộng sản. Tôi, Nguyễn Văn Thiệu, một tổng thống Việt Nam Cộng hòa, một đại tướng quân lực Việt Nam Cộng hòa cương quyết nói không với Cộng sản, cương quyết không chấp nhận bắt tay hay ngồi chung bàn với Cộng sản. Nhưng… (ông ta ngưng khoảng 10 giây để nhìn một lượt các cử tọa) Hoa Kỳ thúc ép tôi phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Ngày nào tôi còn thở trên đất nước này, tôi còn nói không biết, không nghe, không thấy Cộng sản. Nhưng… (lại ngưng 10 giây) nếu tôi không chấp nhận hòa đàm Paris , Mỹ sẽ cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Nếu điều đó xảy ra thì không phải một năm, một tháng hay một tuần mà chỉ một ngày, Việt Nam Cộng hòa sẽ rơi vào tay Cộng sản, Miền Nam sẽ tắm trong biển máu…

Thiệu toan nói nhiều nữa nhưng viên cố vấn an ninh của Thiệu bất ngờ xuất hiện nơi cánh cửa nhung đỏ bước như chạy về phía Thiệu ghé tai nói nhỏ:

- Cảnh sát đã để sổng tên sinh viên Trí.

Thiệu quên mình đang ghé sát mồm vào những chiếc micro, nói thảng thốt:

- Mẹ mấy thằng cảnh sát! Bảo thằng Bình chuyển cuộc họp báo vô đây. Vẫn công bố thằng Trí là Việt cộng.

Câu nói của Thiệu được hệ thống khuếch đại âm thanbh phát lồng lộng trong phòng họp. Không gian trầm lắng vỡ òa.

Thiệu đỏ mặt đính chính:

- Tôi xin tuyên bố cuộc họp tình hình hòa đàm Paris chấm dứt để nhường cho một cuộc họp báo công bố một thông tin liên quan đến các hung thủ ám sát giáo sư Bông. Yêu cầu các cử tọa ở lại tham dự. Để chuẩn bị cho cuộc họp báo, chúng ta giải lao. Tôi sẽ mở hầm rượu chiêu đãi quý vị.

Phòng họp lao nhao kẻ nói người cười bên bàn buffet ứ ắp thức ăn.

Một sĩ quan bảo vệ Phủ Tổng thống tiến đến cạnh ông Sinh phó tỉnh trưởng Bến Tre dập gót chào:

- Kính mời ông phó tỉnh ra ngoài sảnh nhận điện thoại từ người nhà.

Ông Sinh nhanh chóng rời phòng họp bước ra.

Bên kia đầu dây, giọng Loan em vợ của ông nói rành rẽ:

- Anh Ba vừa ghé thăm anh.

Ông Sinh bình thản bảo:

- Được rồi. Em bảo ông trung úy Tám tài xế, mười lăm phút nữa đánh xe đến phía trái cổng dinh Độc Lập đón anh nghen. Anh họp sắp xong rồi.

Cánh cửa ngôi biệt thự nhà ông Sinh mở rộng để chiếc Mercedes màu đen có cắm cờ hiệu ưu tiên trước mũi xe từ từ lăn bánh khỏi con hẻm. Tài xế là một thanh niên có hàng ria mép rậm, vận bộ quân phục bộ binh đính hàm trung úy. Những người hàng xóm láng giềng thoáng ngạc nhiên khi thấy người lái xe cho ông phó tỉnh hôm nay không phải là ông trung úy hiền lành và vui vẻ thường ngày mà là một viên trung úy trẻ lạ. Tuy lạ nhưng nét mặt viên tài xế trung úy trẻ này trông quen quen. Tuy nhiên những người hàng xóm tò mò vội quên ngay tâm trạng ngạc nhiên vì cảnh lục soát nhà ông ký bưu điện đàng kia hấp dẫn hơn.

Sau khi quan sát qua kính chiếu hậu, biết chắc không có cái đuôi nào bám theo, Trí đánh vô lăng cho xe tấp vào một ga xăng. Anh Tám tài xế của ông Sinh trong bộ đồ lính đứng chờ sẵn từ khi nào bước đến mở cửa xe, vồn vã hỏi lớn:

- Cha! Lần sau muốn nghỉ phép thì báo trước vài ngày nghen cha nội! Ông lái xe cho phó tỉnh trưởng mà cứ nghỉ đột xuất đi chơi với mèo, có ngày bị ông phó tỉnh cho đi Vùng Một đó.

Trí cười hề hề, đáp lớn:

- Thông cảm đi anh Tám. Tui chỉ nhờ anh lái thay thế lần này nữa thôi. Tại tui mới quen con nhỏ sinh viên, cù cưa cả tháng nay mới hẹn được nó đi chơi Vũng Tàu. Thôi, anh đi đón ông sếp tui nhanh nhanh đi, ổng mới họp xong, đang chờ xe tới đón ở cổng phải dinh Độc Lập. Tối nay tui bao anh chầu lade(*) tạ ơn.

Trước khi bước vào xe, anh Tám bắt tay Trí:

- Thôi khỏi bia bọt. Mai mốt tui có độ, ông lái xe thay tui là được. Chúc ông đi chơi với mèo vui vẻ.

Trí nhận được giữa cái bắt tay của anh Tám một miếng giấy nhỏ. Anh Tám đánh xe phóng ra đường. Trí vẫy một chiếc taxi chui tọt vào:

- Cho tôi ra bến Bạch Đằng.

Trí kín đáo mở miếng giấy nhỏ của anh Tám đưa khi đang ngồi gọn trong taxi. Miếng giấy ghi vỏn vẹn 2 từ: “Hạ viện”.

Trí dựa ngửa vào thành ghế nói với người lái xe taxi:

- Khỏi ra bến Bạch Đằng. Anh chở tôi đến Hạ viện.

Người lái xe taxi chỉ dạ một tiếng rồi lẳng lặng đánh xe đến thẳng tòa nhà Hạ viện.

Ra khỏi chiếc taxi, Trí bước thẳng lên bậc tam cấp tòa nhà Hạ viện. Mấy viên quân cảnh đang đứng gác gần đó, quát:

- Anh lính kia, đi đâu?

Như một gã lính lưu manh chính hiệu, anh hất hàm về phía mấy tên quân cảnh chửi thề:

- Tao vừa từ chiến trưởng lửa khói về, tranh thủ ghé thăm anh tao, không được hả? Tụi mày cơm no ấm cật ở thủ đô bày đặt hạch sách, tao cho ăn mấy phát bây giờ.

(*) Một loại bia bình dân ở Sài Gòn

Mấy gã quân cảnh thấy Minh Trí ăn nói gống như bọn lính mới đi trận về nên hơi ngán, hạ giọng:

- Trung úy bớt nóng. Nhiệm vụ của chúng tôi là đảm bảo an ninh khu vực này. Lúc này Việt cộng lộng hành lắm. Nếu trung úy không phiền, làm ơn cho chúng tôi xem giấy tờ.

Trí chưa biết phải đối phó sao thì từ trong tòa nhà Hạ viện, một người đàn ông trắng trẻo, phốp pháp bước ra. Đó là dân biểu Hàm. Ông ta xua tay với mấy gã quân cảnh:

- Giấy tờ chi cho phiền phức. Em trai tôi đó mấy chú. Nó từ chiến trường Trị Thiên về đó – Nhìn về phía Trí, vị dân biểu nói to – Hóa ra em còn sống. Ôi! Vào đây với anh, nhanh lên.

Trí mừng gỡ chạy lên bậc tam cấp ôm lấy vị dân biểu. Mấy gã quân cảnh vội lỉnh đi chỗ khác.

Trong lúc ôm chặt nhau, vị dân biểu nói nhỏ vào tai Trí:

- Chú vào phòng làm việc của anh trú mấy hôm chờ giao liên đưa lên Đà Lạt.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

(Tiếp theo)

Tám

Cơn mưa dữ dội đêm qua khiến lũ vắt đói đang ẩn mình dưới đáy lớp lá mục có thêm sinh khí. Chúng rời nơi trú ẩn vung vẩy chiếc vòi gớm ghiếc trườn thân hình nhơ nhớp lên các nhánh cây, cọng cỏ tìm nơi ẩn nấp chờ con mồi đi qua.

Mặt trời đã lên cao. Từng cụm mây hình vảy cá treo lơ lửng trên bầu trời xanh thẳm.

Ở một góc đồi thấp trong vạt rừng thưa mang tên Tà Săng linh thiêng thuộc tỉnh Kampongcham, cách quốc lệ 7 của vương quốc chùa tháp non 5 cây số ẩn hiện thấp thoáng những cụm nhà lá im lìm. Trong cái tĩnh lặng của rừng, những tiếng chim cùm với tiếng gọi bầy của voọc trở thành âm thanh huyền bí.

Tà Săng là tên gọi một vị thánh linh thiêng mà bất cứ thợ săn, thợ rừng nào cũng kính nể. Săng là con trai duy nhất của một cặp vợ chồng thợ rừng cư ngụ tại sóc Tà Ôi. Thuở thiếu niên, Săng đã lộ rõ năng khiếu thiên phú về tài bắn cung thiện nghệ. Trong tầm ngắm của Săng, một con chim sẻ bay vút cũng không thoát được mũi tên căng dây dũng mãnh. Khi trưởng thành, Săng trở thành một tráng sĩ vạm vỡ, gan dạ của sóc. Nhờ Săng, những đám cướp cạn ven biển và lũ ma rừng, lũ chằn tinh ba mắt không dám bén mảng đến Tà Ôi quấy rối dân sóc.

Bỗng một ngày, sóc Tà Ôi dậy sóng bởi một đám người da trắng bệch mà người Việt gọi là quân Phú Lang Sa kéo quân đến xua đuổi dân sóc rời rừng sang bên vùng đất của người Việt. Chúng bắt những trai sóc đi làm phu đào đường không công cho chúng. Săng cùng một số thanh niên người Việt trốn vào rừng, gia nhập vào đội nghĩa quân của Pucambot đánh đuổi Phú Lang Sa. Chủ soái Pucampot giao cho Săng chỉ huy một toán quân chuyên đột nhập các kho lương của địch đem về chia cho dân làng. Thỉnh thoảng những người dân nghèo người Miên, kể cả người Việt bất ngờ nhận được một bao gạo được ném bí mật vào nhà của mình. Quân Phú Lang Sa tổ chức nhiều trận phục kích nhưng không thể bắt Săng bởi Săng có phép tàng hình. Có lần Săng dùng phép thuật đi thẳng vào giữa doanh trại Phú Lang Sa lúc giữa trưa, đường hoàng lấy vài khẩu súng và một túi gạo trước mặt tên quan hai mà không bị phát hiện. Từ đó, dân làng Việt lẫn dân sóc Miên đều gọi Săng bằng cái tên kính trọng: Tà Săng. Sau này, quân Phú Lang Sa mở tuyến quốc lộ 7 xuyên Việt – Miên, nghĩa quân Pucampot rút lui dần vào rừng sâu và biến mất bí ẩn. Săng vẫn ở lại tại vùng đồi thấp nơi vạt rừng gần sóc Tà Ôi để bảo vệ dân làng. Tuy không ai thấy bóng dáng của ông nữa nhưng mỗi khi gặp nạn, người ta gọi tên ông, khấn cầu cứu giúp đều được thoát nạn. Nhiều thợ rừng kể rằng, thỉnh thoảng họ bắt gặp trong màn đêm một cặp mắt to bằng cái chén, đỏ lừ nhìn chăm chắm. Họ cho rằng đó là đôi mắt của Tà Săng. Khi họ đốt một bó nhang khấn vai Tà Săng thì đôi mắt biến mất.

Trong một căn nhà lá nhỏ nép cạnh một gốc cây dầu già giữa cánh rừng Tà Săng, một người đàn ông trung niên, dáng tầm thước, vận bộ bà ba đen, khăn rằn cà ma quấn cổ, đang trầm tư suy nghĩ trước một quyển sổ tay chi chít chữ cạnh chiếc bàn được ghép tạm bợ bằng những tấm ván xẻ. Đó là Sáu Ngọc, Phó ban An ninh T4 chỉ huy mạng lưới điệp báo nội thành Sài Gòn.

Chiếc radio hiệu National nơi góc bàn đang rỉ rả phát bản tin của đài phát thanh Sài Gòn tường thuật về những cuộc biểu tình của giới học sinh sinh viên. Bản tin này đã được phát từ chiều hôm qua nhưng sáng nay vẫn được phát lại. Vì vậy Sáu Ngọc không quan tâm lắng nghe.

Ông đang bận tâm đến vấn đề quan trọng hơn.

Cuộc họp đột xuất của Thường vụ Khu ủy chiều hôm qua khiến Sáu Ngọc băn khoăn thức trắng đêm. Thường vụ Khu ủy giao cho Ban An ninh T4 nhiệm vụ tạo thế chính trị làm áp lực đòi Thiệu chấp nhận giải pháp hòa bình. Câu nói của Bí thư Khu ủy cứ ong ong trong đầu Sáu Ngọc: “Sẵn sàng ám sát Thiệu. Tuy nhiên đó là giải pháp cuối cùng bởi Thiệu bị ám sát sẽ có Thiệu khác thay thế. Ta đối sách với Việt Nam Cộng hòa nhưng thực chất là đối đầu với Mỹ. Việt Nam Cộng hòa là đối tượng nhưng Mỹ mới là mục tiêu của ta. Nếu Mỹ loại bỏ Thiệu, Mỹ sẽ tìm người khác thay thế. Biết đâu người khác khôn ngoan hơn Thiệu. Vì vậy, ta chỉ làm áp lực vừa đủ để Thiệu vẫn ở lại ghế tổng thống nhưng chấp nhận hòa bình. Hiện thời, Thiệu không chịu ký hiệp định Paris vì không dám công nhận chính phủ của ta. Thiệu không ký thì Mỹ khó có cớ rút quân trong danh dự. Vì vậy, bằng mọi giá ta phải làm cho Mỹ buộc Thiệu ký. Ta cần tổ chức một mạng lưới đòi hỏi Thiệu ngồi vào bàn đàm phán Paris . Giải pháp cuối cùng khi Thiệu vẫn cứng đầu thì dùng sức mạnh của tổ chức tình báo của ta lật đổ Thiệu và nhanh chóng đưa người của ta vào nội các Thiệu”.

Sáu Ngọc lẩm bẩm:

- Làm cách nào đây?

Ông mở xắc cốt lấy ra một tờ giấy mỏng. Đó là một bức mật điện được gởi từ Sài Gòn vào khu vừa được bộ phận cơ yếu giải mã. Bức mật điện là nội dung lá thư của Tổng thống Mỹ Nixon gởi cho Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 31 tháng 8 năm 1972.

“Thưa tổng thống,

Bước vào giai đoạn tế nhị hiện nay của cuộc thương thuyết Paris, tôi muốn quả quyết với Ngài một lần nữa, nhân danh bản thân tôi và một cách dứt khoát về nền tảng sắt đá của lập trường Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã không kiên trì từ bao lâu nay, với sự hy sinh của bao nhiêu mạng sống người Mỹ, để thay đổi lập trường vào mấy tháng chót của năm 1972. Lúc này đây chúng tôi sẽ không làm điều gì mà ba năm rưỡi trước đây, chúng tôi đã từ chối không làm. Nhân dân Mỹ biết rằng Hoa Kỳ không thể mua được hòa bình hay danh dự, hoặc chuộc lại được những hy sinh của mình với cái giá phải trả là bỏ rơi một Đồng minh dũng cảm. Điều này tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm. Nhưng nếu ta muốn thành công trong chặng đường cuối cùng của cuộc hành trình lâu dài này, ta phải hoàn toàn tín nhiệm lẫn nhau…

Ký tên: Richard Nixon.

Sáu Ngọc bóp trán chăm chú đọc đi đọc lại nội dung lá thư hàng trăm lần. Bằng linh cảm nhạy bén của một vị chỉ huy phái khiển, Sáu Ngọc phân tích những ẩn ý nằm sâu trong từng câu văn trong lá thư của Tổng thống Mỹ.

Những thông tin điệp báo nội thành cùng với những bản tin của đài BBC cho biết đại hội Đảng Cộng hòa của Mỹ diễn ra ở Miami vào ngày 22 tháng 8. Tức là lá thư này được Nixon viết cho Thiệu sau 9 ngày diễn ra đại hội Miami . Đại hội này, Nixon được đảng của ông ta đồng ý cho ông ta tiếp tục tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2. Với tư thế chuẩn bị tái tranh cử, Nixon và đảng phái của ông ta cần, rất cần những cuộc đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tiến triển nahnh. Ông ta cần gương cao lá cờ triệu hồi binh sĩ về Mỹ theo con đường vinh dự để lấy phiếu bầu của cử tri. Những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam đang làm những gã dân biểu Mỹ nhảy lồng nhảy lộn suốt ngày đêm. Cái ghế tổng thống nhiệm kỳ 2 của Nixon đang được những chiếc đinh ốc mang tên hòa bình Việt Nam giữ tạm để khỏi bật ra khỏi cái nền Tòa Bạch Ốc. Ông ta cần Thiệu chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán theo yêu cầu của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lá thư này, Nixon đang ve vãn Thiệu để đạt mục đích tranh cử tức là tạm nhân nhượng sự lỳ lợm của Thiệu chứ không phải Nixon chấp nhận ý kiến của Thiệu.

Sự tái ứng cử của Nixon buộc Nixon phải túm cổ Thiệu lôi ra bàn đàm phán Paris . Sáu Ngọc ntin chắc như thế. Nghĩ đến đó, ông thở phào nhẹ nhõm. Lá thư này chỉ là cái củ cà rốt Mỹ ném cho Thiệu mà thôi.

Phải áp dụng chiêu thức “tựa phong đả mộc” thôi. Sáu Ngọc mỉm cười sau ý nghĩ có vẻ “sến” của mình. Tuy nhiêu, ngay sau đó, Sáu Ngọc cũng nhận thấy không thể dùng hình tượng khác để ẩn dụ kế hoạch mới vừa nảy sinh trong đầu.

Ông nhớ lại Nghị quyết 165 của “anh Ba” – mật danh của Thường vụ Trung ương Cục Miền Nam – nhấn mạnh nhiệm vụ của công tác an ninh là: “Chủ động tiến công địch, đồng thời tích cực bảo vệ ta, đẩy lùi từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đánh địch trên cả 3 vùng, sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả 3 lực lượng: Chính trị, nghiệp vụ, vũ trang”. Khu ủy cũng đã chỉ thị rõ 4 mục tiêu công tác đô thị là: Giành quyền làm chủ ở xóm lao động; Tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng làm thay đổi sự tương quan lực lượng có lợi cho ta; Hình thành mặt trận đấu tranh của nhân dân thật rộng rãi, lấy xóm làng làm nền tảng; Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về mọi mặt.

Với những yếu tố đó, Sáu Ngọc nhận thấy việc xây dựng một tổ chức tình bào chính trị chuyên biệt nhắm vào Thiệu và nội các của ông ta là giải pháp đúng đắn nhất. Tựa vào dư luận Mỹ đang tẩy chay chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, tựa vào áp lực Nixon đang nhắm vào Thiệu, tựa vào tư tưởng hòa bình, dân sinh, dân chủ của các tầng lớp đô thị, tổ chức tình báo này sẽ “bám lưng” Việt Nam Cộng hòa mà đánh là hiệu quả nhất. Nhưng, phải xây tổ tình báo này theo mô hình nào đây?

- Báo cáo chú Sáu, chú Mười đã đến.

Một chiến sĩ cảnh vệ khoác vai khẩu AK bước vào cất tiếng khiến dòng suy nghĩ của Sáu Ngọc bị cắt đứt. Ông bỏ viết ngẩng lên nói với người cảnh vệ:

- Ừm! Cháu tổ chức cảnh vệ mức độ cao nhất nhé. Đây là cuộc họp quan trọng.

Người cảnh vệ cất giọng nhận lệnh. Anh ta xoay lưng vừa bước ra khỏi nhà, một dáng người cao bước vô. Sáu Ngọc đứng bật dậy:

- Báo cáo thủ trưởng…

Người mới bước vào khoát tay:

- Bỏ bớt thủ tục rườm rà đi.

Người mới bước vào nhập đề ngay trước khi ngồi xuống đối diện Sáu Ngọc:

- Sao? Cậu đã tìm ra giải pháp nào chưa?

- Báo cáo anh Mười, lực lượng Thành đoàn có sẵn nhiệt huyết nhưng hầu hết chưa qua lớp đào tạo nghiệp vụ an ninh.

Mười Hương nhìn thẳng vào mắt Sáu Ngọc:

- Ta không thể sử dụng lực lượng Thành đoàn. Các em bên Thành đoàn rất đáng tin cậy và nhiệt tình nhưng chính sự nhiệt tình đó sẽ trở thành nguy hiểm nếu hoạt động điệp báo. Các cuộc biểu tình đã khiến các em lộ mặt với địch hết rồi. Theo tôi, cậu nên sử dụng các anh em bên tổ trinh sát vũ trang.

- Nhưng mấy đứa này có biết gì về nghiệp vụ tình báo đâu?

Mười Hương cười xòa:  

- Cuộc chiến đấu giành tự do cho dân tộc này không theo một khuôn mẫu nào cả. Cậu nên nhớ điều đó. Tôi, cậu và hàng triệu người chiến đấu cho miền Nam đang sử dụng trái tim là nghiệp vụ. Cậu là dân trường lớp chính quy, tôi hỏi cậu này, cậu ứng dụng các cặp phạm trù vào công việc thực tế ở miền Nam này được bao nhiêu phần trăm? Cậu thấy đấy, cái lý thuyết “trường kỳ mai phục” mà cậu thuộc nằm lòng có ứng dụng được cho chiến trường miền Namkhông? Đây là cuộc chiến thực dụng. Hãy tận dụng những thứ mình có.

Sáu Ngọc chờ thủ trưởng dứt câu mới cất tiếng:

- Nhưng… thưa anh, về quân sự ta có thể thực dụng được. Một du kích có thể đánh tay đôi với một tiểu đoàn địch. Nếu thất bại, người du kích hy sinh. Còn trật chiến tình báo thì khác. Nếu một chiến sĩ bị bắt thì ta gãy toàn bộ kế hoạch và lưới.

Mười Hương xoa tay:

- Thôi, bỏ kiểu suy luận trường lớp đó đi mà. Tôi đã từng lọt vào tay địch. Địch đã khai thác được gì ở tôi chưa? Hãy tin rằng, tất cả chúng ta đang chiến đấu vì một Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, hòa bình và hòa hợp dân tộc. Lý tưởng đó chính là kiến thức nghiệp vụ tổng hợp. Hãy tin những trái tim quả cảm, yêu nước và hãy tin tôi đi, đồng chí.

Ngoài mặt tìm lý tranh luận với Mười Hương nhưng thật bụng Sáu Ngọc rất tán thành ý kiến của vị chỉ huy đáng kính. Sáu Ngọc ưa tranh với Mười Hương cốt để… lấy cắp kiến thức thực tiễn chứ không phải vì ông tự cảm thấy mình giỏi.

Thời còn là sinh viên C500 ở miền Bắc, Sáu Ngọc đã cảm thấy có gì đó không ổn ở chiến trường miền Nam về mặt lý luận. Theo những gì giảng viên nước ngoài dạy thì tình báo viên chỉ nên ẩn thân chờ thời cơ. Họ ví dụ, để thắng lợi trận Trân Châu Cảng, Nhật đã phải cấy một điệp viên vào vai gã thợ sửa đồng hồ hàng chục năm trời. Suốt thời gian dài đằng đẵng ấy, gã điệp viên chẳng được giao nhiệm vụ gì cả mà chỉ chăm chỉ ngồi sửa đồng hồ trước cổng một căn cứ quân sự của Mỹ để kiếm từng xu lẻ sống qua ngày. Địa chỉ hòm thư mật trống rỗng vẫn được gã kiên trì thay đổi đều đặn mỗi tuần. Có lúc gã tưởng như mình đã bị bỏ rơi. Thế rồi một ngày nọ, gã được chỉ thị của trung tâm phái khiển: “Chụp ảnh căn cứ quân sự trước cửa tiệm sửa đồng hồ”. Nhờ những bức ảnh đó, quân Nhật đã thắng lớn trong trận Trân Châu Cảng.

Gã điệp viên sửa đồng hồ được chính phủ Nhật ghi nhận công lao to lớn nhất.

Ở miền Nam , ta và địch đối diện nhau, giành nhau từng tấc đất. Cái câu “trường kỳ mai phục” ở chiến trường miềnNam lại không phù hợp. Người dân theo ta nhưng địch quản lý. Nếu ta chỉ biết “mai phục” thì đến bao giờ mới có thời cơ?

- Cái cậu học trò chuồng cọp ra sao rồi? Quen rừng chưa?

Câu hỏi của Mười Hương cắt ngăng dòng suy nghĩ của Sáu Ngọc.

- À! Nó đã ổn. Nó vào đây có cái tên mới là Mười Thắng. Hiện đang làm nhiệm vụ phân tích thông tin nội thành và nội các của Thiệu cho tổ điệp báo của tôi. Nó tỏ ra nhạy bén và có năng khiếu trong việc này. Có vấn đề gì hả anh Mười?

Mười Hương mở xắc cốt đeo bên hông, lấy ra một quyển sổ rồi hắng giọng. Sáu Ngọc biết thủ trưởng sắp triển khai công tác mới, vội vã mở quyển sổ tay và chăm chú lắng nghe.

Mười Hương chậm rãi nói:

- Theo chỉ đạo của Trung ương Cục, ta chuẩn bị mọi thứ để buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài. Từ tháng Năm năm rồi, Trung ương Cục đã nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Trong chỉ thị đó, Bộ Chính trị nhấn mạnh chủ trương “Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972”. Ngày 27.7.1972 tại hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân châu Âu đoàn kết với nhân dân Việt Nam, 27 đoàn đại biểu các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắc Âu đã ra “Tuyên bố Paris” kêu gọi “chính phủ Mỹ chấm dứt tức khắc các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Lào và Campuchia”. Mỹ không muốn chấp nhận việc ký kết hiệp định bất lợi cho Mỹ và ngụy nên chủ trương đánh đòn quân sự để ép ta phải nhượng bộ chúng. Chúng cho rằng “đe dọa phải… kết hợp với hành động thực thì mới có hiệu quả thuyết phục đối phương”. Johnson năm 1965 đã dùng biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến lược ở miền Nam ; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán “được ăn cả, ngã về không”. Tại bàn đàm phán Paris , Mỹ đòi ta sửa đổi 120 chỗ trong dự thảo hiệp định. Bộ Chính trị Đảng ta nhắc nhở “phải đề phòng Mỹ tăng cường hành động quân sự. Tuyệt đối ta không được lơ là mất cảnh giá”. Đó là tình hình chung.

Ngưng một lúc, Mười Hương nói tiếp:

- Ta phải thành lập một cụm điệp viên đáp ứng ba nhiệm vụ tình báo cụ thể do trên giao - Mười Hương vào thẳng vấn đề - Nhiệm vụ cụ thể của cụm này là xây dựng mạng lưới điệp báo, cơ sở bí mật trong các cơ quan chính quyền Sài Gòn. Một, sử dụng biện pháp tình báo thúc đẩy quần chúng chống đối Thiệu để Thiệu không còn con đường nào khác ngoài việc chấp nhận ký tên vào hiệp định Paris . Hai, xây dựng lực lượng điệp viên chuẩn bị chui vào lực lượng thứ ba đối lập với Thiệu sau khi hội nghị Paris hoàn tất. Trước khi đi ra Bắc dự hội nghị Trung ương 21, anh Mười Cúc – Bí thư T4 có dặn kỹ tôi: Nếu lật Nguyễn Văn Thiệu, người khác lên thay Thiệu thì không chấm dứt chiến tranh được. Ta phải để Thiệu lại rồi cho người vào được lực lượng thứ ba để nếu Hiệp định Paris thành công, chúng thành lập chính phủ ba thành phần thì có người của ta trong đó sẵn. Một điệp báo của ta đang ẩn mình trong lực lượng CIA đã báo cáo nhận định rằng: Mỹ mà rút thì Thiệu chỉ có “ăn cứt gà” thôi. Mỹ ngưng viện trợ là chết liền. Và Mỹ dứt khoát sẽ rút. Ba, ta sử dụng biện pháp tình báo xây dựng, tổ chức vùng lõm, chờ thời cơ nổi dậy cướp chính quyền. Không băn khoăn nữa, chọn cậu học trò chuồng cọp làm đầu mới xây dựng cụm điệp báo này. À, tôi và các đồng chí thường vụ đặt mật danh cho cụm này là A10. Tuy không được đào tạo qua trường lớp chính quy nhưng tôi tin chắc cậu ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tôi tin sự chỉ đạo của cậu dành cho cậu ta chính là những bài học nghiệp vụ thực tiễn. Cụm điệp báo này phải tổ chức móc nối ngay với một tờ báo đối lập với Thiệu.

Sáu Ngọc vừa lắng nghe vừa cầm cây viết Parker viết nhanh những suy nghĩ vắt tắt vào quyển sổ tay: “Cần phải tấn công chính trị vào chính quyền Sài Gòn bằng điệp báo. Tạo thế chi phối những tờ báo tự do dân chủ, đối lập với chính quyền Thiệu. Phục hồi một số trung tâm hợp pháp trong lực lượng phụ nữ, học sinh, sinh viên. Tổ chức hoặc chi phối từ 5 đến 7 cuộc biểu tình đại quy mô toàn thành, ít nhất có từ 30.000 đến 35.000 người có cảm tình với ta. Theo dõi và tác động chính trị với nhóm Dương Văn Minh. Xây dựng vài trung tâm công khai dựa vào lực lượng thứ ba. Cài cắm người vào lực lượng thứ ba để tìm diệt nhân viên của Thiệu cài cắm vào đối phó hiệp định nếu Thiệu chịu ký hiệp định. Kiểm soát phong trào chống tham nhũng của Công giáo. Xây dựng các trung tâm công khai và các lõm chính trị trong các cụm dân cư. Học sinh sinh viên cần biểu tình bãi khóa từng trường đòi giảm thuế trường tư, đòi dân chủ học đường, chống bắt lính. Đối với những chợ điểm xây dựng ¾ gia đình làm trung tâm công khai, những quận mạnh phải xây dựng ½ tổng gia đình. Ở 36 chợ yếu chỉ xây dựng ⅓ cơ sở. Về công tác xây lõm chính trị: Phải xây dựng 150 khóm có cơ sở của ta, xây dựng từ 30 đến 40 khóm loại A (tức những khóm đã có tổ vũ trang, có đảng viên và địch bị ruỗng)”

- Báo cáo đồng chí, rõ. Nhưng tôi vẫn băn khoăn… cụm điệp báo này sẽ hoạt động theo phương thức nào đây?

- Mạng lưới đơn tuyến một đầu mối. Ta tạm gọi đây là hoạt động tình báo chính trị.

- Và đầu mối sẽ là…

Mười Hương nhắc lại:

- Đúng, cụm trưởng là cậu học sinh chuồng cọp. Hãy để cậu ta tự xây dựng mạng lưới chân rết cho cụm.

Sáu Ngọc thức trắng đêm để băn khoăn những điều Mười Hương vừa chỉ đạo. Ông tự cười cái tính cả lo xa quên nhìn gần của mình. Cậu học sinh Minh Trí tức Mười Thắng chính là chìa khóa giải tỏa những băn khoăn nghiệp vụ của Sáu Ngọc.

Những thành tích hoạt động thành của Mười Thắng đã thu hút lực lượng sinh viên, học sinh thành một mạng lưới có sẵn. Đây sẽ là mạng lưới tình báo chính trị khắp nội thành. Lực lượng này có sẵn, chỉ cần thay đổi phương thức từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh tình báo chính trị. Và cậu học sinh chuồng cọp chính là người hội đủ yếu tố chỉ huy mạng lưới này. Sáu Ngọc gật gù mỉm cười thỏa mãn.

Mười Hương nhìn Sáu Ngọc:

- Chuyện gì mà cười một mình vậy?

Sáu Ngọc bộc lộ ý nghĩ của mình:

- Anh chọn thằng Mười Thắng khiến tôi hình dung ngay mức độ thành công của nhiệm vụ. Ấy vậy mà tôi thức trắng đêm suy nghĩ vẫn không ra.

- Thôi, đừng tán nhau nữa. Bắt tay vào làm thôi.

- Báo cáo đồng chí, rõ!

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

(Tiếp theo)

Chín

Sáng sớm, bến xe khách Sài Gòn đầy ứ người, xe, khói, bụi và hàng triệu loại âm thanh hỗn tạp.

Những chiếc xe đò liên tỉnh loại 50 chỗ ngồi xếp thành hàng ngay ngắn trông rất tề chỉnh, lịch lãm. Thế nhưng chỉ cần một người khách xuất hiện, tất cả vẻ ngoài lịch lãm của nó biến mất, thay vào đó là cảnh chèo kéo, giành giật xô bồ sùng sục của cánh lơ tài. Những chiếc xe thi nhau nổ máy ra vẻ như xe sắp rời bến. Những gã lơ tài của hàng chục hãng xe khác nhau túa ra bao quanh lấy kahc1h, miệng thì lạch tạch chào mời, tay thì nắm chặt vai khách dìu ân cần nhưng cương quyết như cảnh sát mật bắt người, đưa về xe của mình ấn xuống ghế. Những gã lơ chậm chân hơn thì cố giật lấy hành lý của khách vác chạy về xe khác. Cái cảnh người ngồi xe này, hành lý ngồi xe khác là chuyện bình thường ở đây. Những cuộc cãi lý ầm ĩ toàn ngôn từ hạ đẳng, có cả những lời đe dọa mang hơi hướm của máu, của bất cần đời, của tù đày diễn ra rất nhanh rồi sau đó tắt ngóm không để lại dấu vết gì sau khi vị khách quyết định chọn chiếc xe mình đi. Hành lý được trả về cho chủ hoặc chủ qua cơn hớt hải tìm ra chỗ ngồi của hành ký. Những chiếc xe không cần ra vẻ sắp xuất bến nữa, lùi về vị trí cũ đậu ngay hàng thẳng lối. Những gã lơ lại tụm vào nhau trò chuyện thân thiện như chưa từng đe dạo chém giết lẫn nhau.

Chiếc xe khách loại 50 ghế mang biển tên Liên Thành 3 chạy tuyến Sài Gòn - Trảng Bàng đã đến giờ nhưng vẫn chưa chịu rời hẳn bến. Tài xế nghe theo lệnh của lơ tài cứ cho xe xịch tới xịch lui như gà mắc đẻ. Gã lơ tài như một chú khỉ làm xiếc, đeo bám lắt lẻo trên cửa xe liên tục đập tay vào thành xe thì thùng, miệng ra lệnh với tài xế không ngớt: “Chạy! Ghe… é… ghé vô! Lùi! Khách! Xì tốp! M... mu…i… mui nè!”. Gã lơ tài vận chiếc áo hoa hòe lá cải, bó sát thân hình, để hở 3 chiếc nút cổ khoe sợi dây chuyền vàng chóe to bằng ngón tay út và bộ ngực lép kẹp đầy xương sườn. Mái tóc tổ quạ như một cái nón lông cừu đen phủ mất nửa gương mặt cô hồn xám ngoét. Hai chiếc đùi tong teo được phần trên chiếc quần ôm sát, trong khi phần ống lại rộng tòe lòe như ống kèn. Thời trang hippi cũng không tha thứ cánh đu bám cửa xe kiếm cơm. Thứ thời trang nửa lưu manh nửa dân chơi khiến người có tính an phận ngán ngại đụng chạm đó lại được giới lơ xe thích xài bởi tính chất nghề nghiệp. Đâu phải ai cũng được chủ hãng xe giao làm lơ tài trong thời buổi giang hồ, lưu manh đầy nhóc xã hội. Là lơ tài, ngoài việc biết quan sát đường chạy, đường lui cho tài xế, anh ta còn phải có chút máu lưu manh sẵn sàng đâm chém thiên hạ để tranh giành khách với các hãng xe khác.

Lơ cửa hậu là chú nhóc khoảng 14 tuổi, ốm nhách, đen nhẻm, đang đu toòng teng ở cửa sau nghe lơ cửa tài hét “mui” liền nhảy phóc lên mui xe đưa tay đóng lấy chiếc vali do lơ tài ném tưng lên.

Khánh Duy đứng nơi cửa xe nhíu mày phân bua với gã lơ tài:

- Này anh, tôi muốn ngồi cạnh sau lưng tài xế.

Gã lơ tài cười xởi lởi:

- Xe trống đại ca muốn ngồi đâu tùy thích. Xe ế, chuyến này chắc lỗ nặng. Nghe tin Mỹ sắp rút quân, sắp cắt viện trợ, giá dầu tăng ngất ngưởng.

Khánh Duy:

- Thôi được. Nhưng tôi còn hai người bạn sắp lên xe. Họ sẽ ngồi đâu?

- Đại ca yên tâm. Em sẽ xếp hai ghế cạnh cửa sau cho họ.

Khánh Duy càm ràm thêm:

- Vali để trên mui nếu mất tui bắt đền gấp mười lần đó.

Gã lơ xe cười hềnh hệch:

- Em dặn lơ mui sắp vali của đại ca ở mép baga, đứng dưới đất cũng trông thấy. Mất là em biết liền. Em sẽ đền cho đại ca gấp trăm lần luôn. Người yêu để trên mui cũng không mất chứ đừng nói đến cái vali rẻ tiền đó. Khà khà khà!

Trước khi bước vào chiếc ghế sau lưng tài xế, Khánh Duy hướng ánh nhìn của mình về phía chiếc cổng của bến xe, nói bâng quơ:

- Hai người bạn của tôi đang đứng ngoài cổng bến, chờ xe xuất bến mới lên.

Ngoài cổng bến xe, hai gã đàn ông đứng hai nơi cách nhau hàng chục mét nhưng đều mang kính đen, đều đội nón nỉ đen, đều bỏ hai tay vào túi áo khoác màu xám nên gã lơ xe nhận ra ngay đó là đối tượng mà vị khách sinh viên gọi là “bạn”.

Gã lơ xe nhe hàm răng bịt vàng chóe ra cười:

- Đại ca yên tâm, em sẽ chăm sóc kỹ bạn của đại ca.

Ngay lập tức, gã lơ đạp mạnh tay vào thùng xe đánh rầm, miệng hô:

- Xuất bến!

Lần này chiếc xe xuất bến thật. Nó chậm rãi bò lừ lừ ra cổng. Cùng lúc đó, một chiếc xe khác mang biển tên Liên Thành 5 cũng bắt đầu khởi động máy.

Hành khách trong chiếc xe Liên Thành 3 chỉ có 3 người khách: Khánh Duy và một cặp nam nữ. Nam thanh niên ăn mặc giống y khuôn Khánh Duy. Khi chiếc xe Liên Thành 3 vừa xoay đầu, Khánh Duy được gã lơ tài báo hiệu rời xe. Anh nhanh chóng bước rac cửa sau rồi nhảy lên chiếc xe Liên Thành 5. Vị khách nam bước ra ngồi vào chiếc ghế của Khánh Duy, vòng tay ôm đầu che mặt như ngủ. Chiếc Liên Thành 3 vừa ra khỏi cổng, hai vị khách mang kính đen nôn nóng nhảy lên xe. Sau khi trông thấy “Khánh Duy” vẫn còn ngồi sau lưng tài xế, hai vị khách yên tâm ngồi xuống ghế ngay sau lưng “Khánh Duy”. Gã lơ tài phân bua với mấy vị khách loe ngoe trong xe:

- Khổ chưa? Chỉ có mấy người khách, đúng tài là phải xuất bến, chuyến này tụi tui lỗ trắng xương.

Khi rời khỏi nội thành, đến trạm cảnh sát Bà Quẹo khu vực ngoại vi sân bay Tân Sơn Nhất, tài xế cho xe chậm rãi dừng trước thanh chắn. Gã tài xế thò nửa người ra cửa sổ tài tung một cây thuốc Salem vào không trung cho một viên cảnh sát dã chiến ôm súng M16 đang bước lại gần, mồm hô:

- Hút cho thơm râu, trung úy! Trong đó có một gói “quân tiếp vụ”, đùng hút gói thuốc đó, khét khói lắm! Hôm nay xe ế quá! Chẳng có gì để khám xét cả. 

Viên cảnh sát ôm cây thuốc vào lòng lia nhanh tia mắt qua cửa sổ xe rồi cười hềnh hệch:

- Hôm nay xe ế thật hỉ. Mấy mụ buôn lậu tiếp tế cho Cộng sản không còn hứng thú với những chuyến hàng nữa hỉ. Tui cũng chia gói “quân tiếp vụ” đều cho các anh em chứ không thèm hút một mình đâu. Chúc thượng lộ bình an để còn gởi thuốc đều đều cho anh em nghen! Qua Suối Sâu cẩn thận hỉ. Lúc này Việt cộng lộng hành đoạn đó dữ lắm.

- Ô kê sa lem, sếp!

Chiếc xe chui qua thanh chắn rồi tăng tốc. Những cánh đồng trơ gốc rạ hai bên đường chạy vun vút về phía sau. Đến một đoạn vắng, chiếc xe rẽ vào một con đường đất. Hai vị khách mang kính đen nhìn nhau rồi đồng loạt đứng lên hét với tài xế:

- Stop!

Vị khách đóng vai Khánh Duy ngẩng mặt lên vươn vai. Gã lơ tài mỉm cười, nhũn nhặn với hai gã mang kính đen:

- Mong quý khách giữ trật tự.

Hai gã mang kính đen chưa kịp phản ứng gì thì một nữ hành khách xinh đẹp từ phía sau tiến lên gí khẩu rulo vào mạng sườn một gã:

- Chúng tôi nhân danh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam yêu cầu các anh ngoan ngoãn tuân lệnh.

Hai gã khách tái mặt.

Khánh Duy thư thả ngồi xuống chiếc ghế nệm dành sẵn cho mình trên chiếc xe khách Liên Thành 5, lòng thầm cám ơn anh em ở tổ trinh sát vũ trang liên quận đã khéo léo thu xếp mẻ lưới tóm gọn hai gã cảnh sát mật bám đuôi anh suốt từ mấy tháng nay. Kể từ sau ngày Minh Trí chém vè, Khánh Duy luôn bị những gã mang kính đen theo dõi nhưng mức độ an toàn cao nên anh không cần thiết phải “cắt đuôi”. Tuy nhiên, mới đây qua một hòm thu mật anh nhận được tin của Trí. Trong tin, Trí yêu cầu anh phải thu xếp vào căn cứ một ngày. Để chuyến về cứ an toàn, Khánh Duy yêu cầu được hỗ trợ “cắt đuôi”.

Chiếc Liên Thành 5 chậm rãi rời bến. Trong khi chiếc Liên Thành 3 phóng vun vút thì chiếc Liên Thành 5 lại từ tốn chạy vòng quanh các con phố. Ba phút sau, chiếc Liên Thành 5 dừng tại một nơi cách bến xe non 3 cây số. Khánh Duy rời khỏi xe, tiến thẳng vào một đồn cảnh sát.

Viên thiếu úy cảnh sát đang ngồi ngáp dài ngáp ngắn sau chiếc bàn buy rô, thấy Khánh Duy, hất hàm hỏi cộc lốc:

- Chuyện gì?

- Thưa ông cảnh sát, tôi vừa bị móc túi, mất bóp.

- Ở đâu?

- Dạ trên đường tôi đi bộ từ trung tâm Sài Gòn về hướng này.

Vừa trình bày, Khánh Duy vừa tháo chiếc đồng hồ Seiko Five trên cổ tay nhẹ nhàng kẹp vào tờ đơn cớ mất giấy tờ đã viết sẵn đặt lên mặt bàn:

- Thưa ông cảnh sát, tôi là bác sĩ thực tập phải đi nhiều nơi khám bệnh dạo để có tiền chi phí ăn học. Vì vậy, chứng minh thư rất quan trọng đối với tôi,. Mong ông cảnh sát xác nhận đơn cớ mất để tôi được làm lại.

Gã cảnh sát rút chiếc đồng hồ nhét vào túi quần sau, mắt lướt sơ tờ đơn:

- Không có nhân chứng a?

- Dạ không, tôi bị mất lúc nào không hay biết nên không biết phải nhờ ai làm nhân chứng hết.

Gã cảnh sát ngoái cổ vào trong kêu lớn:

- Anh Tâm ra đây tôi nhờ một việc.

Từ phía sau một cảnh sát già mang một dấu alpha trên cầu vai chạy tất tả lên:

- Dạ, thưa thiếu úy, tôi có mặt.

- Anh ký tên làm nhân chứng cho anh này.

- Dạ, nhưng tôi đâu có chứng kiến.

Khánh Duy rút cây viết máy mạ vàng trên túi mình đưa cho viên hạ sĩ:

- Anh lấy viết này ký tên cho đẹp.

Hạ sĩ già nheo mắt mỉm cười với Khánh Duy rồi hý hoáy ký. Cái cách cầm viết của ông ta khiến Khánh Duy đoán ông ta học vừa hết lớp một.

Khánh Duy nài nỉ gã thiếu úy:

- Xin ông thiếu úy dời giờ khai báo của tôi vào buổi chiều được không ạ?

Gã thiếu úy hơi ngần ngừ nhưng cũng ký xác nhận vào đơn cớ của Khánh Duy. Có lẽ gã nghĩ ăn hối lộ cũng cần phải sòng phẳng, giá trị chiếc đồng hồ lớn hơn nhiều so với yêu cầu.

Cầm tờ đơn cớ mất, Khánh Duy hài lòng bước thẳng ra đường. Một chiếc xe Honda 67 chạy trờ tới. Người lái xe vồn vã:

- Anh Hai đi honda ôm không?

Khánh Duy nhìn người Honda ôm để nhận mặt:

- Tôi cần đi rất xa. Giá bao nhiêu?

- Anh Mười đã trả tiền. Anh cứ đi.

Đúng mật khẩu quy định, Khánh Duy lên xe vòng tay ôm choàng lấy người lái xe siết cứng, hạ nhỏ giọng nhưng tràn đầy niềm vui:

- Chào người anh em!

Người lái xe siết chặt cánh tay anh nói nhỏ:

- Chào người anh em. Tôi sẽ chạy nhanh đó. Cứ ôm chặt như vậy.

Chiếc xe bắn ga lao nhanh giữa dòng xe cộ tấp nập của Sài Gòn tiến về hướng Bắc Sài Gòn. Không mấy chốc, chiếc xe đã ra ngoại thành.

Lần đầu tiên được vào căn cứ cách mạng, lòng Khánh Duy tràn ngập những háo hức diễn tả thành lời.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Tiểu thuyết tình báo

ĐIỆP BÁO A10

(Tiếp theo)

Mười

Đêm đen mịt mù vô tận. Bầu trời cũng đen thăm thẳm vì thiếu ánh trăng sao. Hoàng toàn không có chút ánh sáng le lói, mờ nhạt nào để nỗi cô độc, sợ hãi không rõ nét bám víu làm điểm tựa. Hàng triệu tiếng côn trùng rền rĩ âm âm như vang lên từ cõi xa xăm tít mù và hơi lạnh ẩm ướt càng làm cảm giác mông lung tăng thêm cường độ. Nếu không có tiếng mái chèo xoàm xoạp, nếu ngày có nhịp lắc lư của chiếc xuồng và nếu không biết chắc mình đang vào trạm giao liên của căn cứ thì có lẽ Khánh Duy tưởng mình đang bị trôi vào khoảng không vô tận của vũ trụ. Lần đầu tiên trong đời nếm trải cảm giác đi xuồng giữa cánh đồng vắng, anh vừa thích thú vừa sờ sợ cái cô tịch mông quạnh. Mấy lần định lên tiếng hỏi han người nữ giao liên đang ngồi chèo xuồng phía trước để vơi bớt cảm giác sợ bóng đêm nhưng chợt nhớ quy tắc trên đường vào căn cứ, anh im lặng và tự cười cợt mình.

- Đi đâu?

Một giọng đàn ông đột ngột bật lên sát bên tai khiến Khánh Duy giật thót người, tim đập loạn xạ. Kèm theo sau câu hỏi khô khan là tiếng va chạm lạch cạch của vũ khí. Hóa ra, chiếc xuồng đã cặp sát bờ.

Người nữ giao liên ngồi phía trước mũi xuồng hô vừa đủ nghe:

- Giăng câu suốt đêm chẵng thấy con cá nào?

Giọng trên bờ đanh gọn:

- Hai hay ba?

- Một.

Đúng mật khẩu. Giọng người trên bờ chuyển sang trạng thái mừng rỡ:

- Có đưa được anh sinh viên dzìa không bé Út?

Giọng cô giao liên mềm nhũn:

- Dạ có chú. Ảnh chết nhát quá! Đàn ông con trai gì mà sợ đỉa, sợ đi chân không, sợ đủ thứ.

- Dân nội thành mà con. Vậy là không đáp ứng tiêu chuẩn kén chồng của con hả?

Cô gái nhảy lên bờ, buông câu nói cuối cùng trước khi biến mất vào bóng đêm:

- Chú Tư… cà chớn.

Cú nhảy của cô gái khiến chiếc xuồng tròng trành, Khánh Duy hoảng vía chụp hai tay vào một bên be xuồng. Thế là chiếc xuồng lộn nhào, Khánh Duy lộn cổ xuống nước. Ngay lập tức người đàn ông trên bờ túm lại cổ áo anh lôi lên. Tuy vậy, Khánh Duy vẫn kịp thở nhầm mấy ngụm nước, ho sặc sụa.

Lúc chiều, khi đã về đến Gò Dầu, chuyển từ xe máy sang chiếc xuồng này, trơ đã nhập nhoạng nên Khánh Duy không nhìn rõ mặt cô gái. Bị cú lộn nước này, Khánh Duy nhớ đời. Con gái gì mà đi với nhau suốt hai giờ đồng hồ chẳng thèm hỏi han lấy một câu. Gì thì gì cũng phá một chút nguyên tắc để làm quen chứ.

Người đàn ông vỗ vai Khánh Duy an ủi:

- Nó là con gái của ông anh ruột tôi. Tánh vậy mới quýnh giặc dữ. Một mình dám chơi nguyên đại đội địa phương quân đó. Thôi bỏ đi tám. Đi với tôi, Mười đang chờ chú em ở trỏng.

Chú Tư nắm tay Khánh Duy dìu từng bước trên nền đất nhão, trơn. Anh dò từng bước khiến chú Tư cười:

- Đúng là dân Sài thành lần đầu vô bưng. Bởi vậy con bé Út chê là phải.

Khánh Duy quê độ làm thinh bấu chặt lấy cánh tay rắn chắc của chú Tư.

Chú Tư chuyển giọng:

- Bà con ở trỏng vẫn mạnh giỏi hả?

Khánh Duy mắc cười, vì câu hỏi hơi kỳ cục. Chú Tư hỏi chung chungvậy, Khánh Duy không biết trả lời sao. Anh nói đại:

- Dạ gia đình cháu vẫn khỏe.

Chú Tư lại cười:

- Tui hỏi vậy có nghĩa là hỏi thăm tình hình đấu tranh của bà con mình với tụi giặc kìa.

Hiểu ra, Khánh Duy bật cười:

- Dạ, bà con vẫn đấu tranh quyết liệt với địch.

- Khi dzìa trỏng, chú em nhớ nói với bà con là ở trỏng bà cô hô một tiếng đả đảo Mỹ là ngoài này tụi tui bắn rớt một thằng địch nghe cái bịch nghen.

  Chưa kịp trả lời câu nói chân thật đó, Khánh Duy đã bị chú Tư đẩy vào một cánh cửa. Sau khi Khánh Duy lọt vào bên trong căn nhà chú Tư bước ngược ra ngoài lẫn vào bóng đêm.

Đó là một căn nhà lá nhỏ, ánh đèn dầu leo loét vừa đủ soi sáng chiếc giường tre. Một người cao, gầy bước đến đón anh ngay sau cánh cửa:

- Anh Duy!

Khánh Duy mừng rỡ khi nhận ra đó là Minh Trí.

Minh Trí kể vắn tắt quá trình mình vượt thoát sự săn lùng của cảnh sát cho Khánh Duy nghe. Nhờ sự thu xếp của ông Sinh – anh rể Khánh Duy, Trí vào ẩn trong phòng của ông Dân biểu Hàm tại Hạ viện. Mấy ngày sau, Trí theo một giao liên lên Đà Lạt. Ở đó, một cơ sở mật đã thu xếp cho anh vào ẩn nấp trong biệt thự Nguyễn Văn Thiệu trong vai một sinh viên đi thăm người chú là gác dan của biệt thự. Ở đó được vài tuần, một đường dân giao liên đón Trí từ Đà Lạt về Thủ Dầu Một rồi đưa vào mật cứ ở Gò Dầu. Từ mật cứ Gò Dâu anh lại được đón vào mật cứ T4 đóng trên đất Capuchia nhận nhiệm vụ phân tích tin tức báo chí. Kết thúc câu chuyện, Trí bảo:

- Bây giờ đừng gọi tôi bằng tên cũ nữa.Tên mới của tôi là Mười Thắng.

Khánh Duy nhìn người bạn trẻ qua ánh đèn dầu. Không gian tự do ở căn cứ khiến Trí có vẻ cứng cỏi hơn.

Khánh Duy thầm tiếc cho Trí. Một thanh niên thông minh, học giỏi như Trí đáng lẽ phải tận hưởng sự thành đạt khoa học chứ không phải xả thân tranh đấu trong điều kiện khắc nghiệt. Đất nước còn bóng dáng kẻ xâm lược, những thanh niên như anh, như Trí không thể thụ hưởng trọn vẹn tuổi xuân êm ấm được. Giấu cảm xúc bất chợt của mình, Khánh Duy hỏi:

- Cuộc sống trong rừng ra sao?

- Lúc mới vô thấy cái gì cũng lạ. Vượn hú cũng giật mình nhưng giờ quen rồi. Sướng hơn trong thành. Ăn uống no đủ chứ không như mấy thằng quốc gia tuyên truyền Việt cộng trong rừng đói kém đeo cọng đu đủ không gãy.

Khánh Duy chưa kịp nói gì thêm thì Minh Trí chuyển giọng nghiêm trọng:

- Tôi khẳng định chúng ta sắp đuổi được Mỹ về nước rồi. Trong khi Thiệu tìm cách phủ nhận vai trò hòa bình của Hiệp định Paris thì Nixon đang trong giai đoạn tìm phiếu để ứng cử nhiệm kỳ hai. Nixon đã viết thư cho Thiệu đe dọa thẳng, nếu Thiệu không chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mặt trận thì sẽ có một cuộc đảo chánh. Thiệu đang cuống quýt nhưng vẫn cố tỏ ra lỳ lượm. Mới cách nay vài ngày, ở Mỹ, Kissinger đã họp báo tuyên bố “hòa bình trong tầm tay” để Thiệu hiểu mức quyết tâm của Mỹ như thế nào. Tuy nhiên, Mỹ sẽ phải xoa dịu với Thiệu bằng cách dùng sức mạng quân sự để áp đảo ta trên bàn đàm phán. Vì vậy Trung tâm cần một mạng lưới tình báo chính trị để thúc đẩy Thiệu chấp nhận hòa bình cho Việt Nam , đồng thời theo dõi động thái quân sự, chính trị trong nội bộ Thiệu. Mạng lưới tình báo này có nhiều nhiệm vụ lâu dài tùy theo diễn biến chính trị của chính quyền Thiệu. Tình hình đến đâu tôi sẽ yêu cầu anh thực hiện đến đó. Đó là lý do tôi gọi anh rời thành vào đây bàn bạc. À, trong nhiệm vụ mới này anh lấy cái tên là Năm Quang để đảm bảo bí mật.

Khánh Duy:

- Mày có nói chơi không? Tao có biết gì về nghiệp vụ tình báo đâu. Mày vô cứ chắc học được chút đỉnh, chứ tao… Nếu có thể, tao xin ở lại cứ học một khóa huấn luyện. Tụi Xịa được trang bị máy móc hiện đại còn bị tụi mình bóp dái hoài. Huống hồ… tao chẳng có chút máu thám tử trong người làm sao làm?

Chợt nhớ ra điều gì, Mười Thắng hỏi:

- À, anh đã thu xếp câu trả lời dành cho tụi cảnh sát chưa? Chúng sẽ đặt dấu hỏi, anh đã ở đâu sau khi hai tên chó săn của chúng bị mất tích.

- Hà hà hà! Tao đã ghé đồn cảnh sát quận Nhất xin tờ cớ mất giấy tờ để xác định trong lúc hai con chó mất tích trên chuyến xe Bến Thành - Trảng Bàng.

- Thôi được. Anh còn giữ mối quan hệ với Họa sĩ Ớt không?

Khánh Duy nghĩ ngay đến Huỳnh Bá Thành - một gã bạn khỉ khọt học cùng lớp thời trung học khi gia đình anh sinh sống ở Đà Nẵng. Trời cho gã này cái tài vẽ hý họa.

Trong thoáng chốc, hoài niệm thuở học trò ùa nhanh về trong trí anh. Thuở đó, tâm hồn anh đắm đuối với những bài thơ, bài ca lãng mạn và tư tưởng siêu thực. Là một học sinh giỏi nhất lớp, nhất khóa, anh luôn đi thẳng, nhìn thẳng và không chơi với những đứa bạn thuộc “tầng lớp” học lực trung bình. Cái kiểu tiểu tư sản nho giáo trong anh như thế. Vì vậy Bá Thành cứ chọc anh là “đồ tông cột đèn”.

Huỳnh Bá Thành thông minh nhưng thuộc tuýp nghệ sĩ hiếu động, bạt mạng nên không cần… học giỏi. Hắn thích chọc ghẹo mọi người, kể cả thầy cô bằng những bức biếm họa. Hắn nắm bắt nhanh nét cơ bản trên gương mặt từng người rồi vẽ lại rất giống, tuy nhiên, những nét vẽ cố ý méo mó khiến chân dung người bị vẽ trở nên quái dị, hài hước. Anh học chung với hắn suốt 4 năm từ đệ thất lên đệ tâm thời trung học Đà Nẵng. Lúc đó gia đình Thành cư ngụ ở Non Nước - một vùng giáp giới giữa ta và địch. Khi rời Đà Nẵng cùng gia đình vào Sài Gòn, anh không còn gặp lại nữa. Mới đây, trong một dịp đi ngang tòa sạn báo Điện Tín, anh thấy hắn ngồi lù lù trong đó. Qua vài câu thăm hỏi, anh biết bây giờ hắn phụ trách mục biếm họa cho tờ báo này với bút danh Họa sĩ Ớt.

- Tư tưởng của anh Thành lúc này thế nào?

- Gia đình Huỳnh Bá Thành căn bản không ai làm việc cho địch. Đã từng sống trong vùng giáp giới xôi đậu thì có thể gia đình nó thuộc dạng theo cách mạng. Hiện nó sống ở khu vực Bảy Hiền. Tao cũng có đọc vài bài báo chống chính quyền của nó. Báo Điện Tín cũng là một tờ báo đối lập với chính quyền Thiệu.

Minh Trí:

- Với tư cách là bạn cùng lớp, anh có thể mời Thành hợp tác với tụi mình không? Nhưng để an toàn, có lẽ tôi sẽ nhờ người xác minh lại tư tưởng của ảnh.

- Tao dư sức kêu gọi nó.

Mười Thắng xoa tay:

- Nãy giờ anh đặt chân vào nhiệm vụ tình báo rồi đó. Chẳng có gì khó cả. Bây giờ thế này, cụm tình báo của ta mang bí số A10. Chúng ta hoạt động theo phương thức đơn tuyến có nghĩa đường dây của ai nấy biết. Mọi đường dây tập trung về đầu mối là Mười Thắng, tức là tôi. Tôi là cụm trưởng. Lãnh đạo Ban giao anh làm cụm phó tức H1. Trước mắt, anh trở về thành xây dựng đầu mối F1, F2, F3, vân vân… Mỗi F thực hiện một mảng nhiệm vụ. Thí dụ, F1 đang làm việc ở phòng kỹ thuật quân đội thì sẽ nắm thu nhập của những thông tin về các chuyến hành quân của địch, thậm chí F1 có thể làm lệch thông số kỹ thuật của chúng nếu Cụm yêu cầu. F2 có thể thuộc mảng vận động tư tưởng quần chúng. CácH và các F cũng tuân thủ nguyên tắc đơn tuyến. Khi H nhận nhiệm vụ từ tôi, H chuyển nhiệm vụ cho các F. Các F sẽ phản hồi nhiệm vụ lại cho H và H phản hồi lại cho tôi. Với mạng đơn tuyến, một người chỉ biết hai đầu mối trên và dưới, khi một mối chỉ bị đứt sẽ không ảnh hưởng đến toàn mạng lưới. Chúng ta sẽ phát triển mạng lưới bủa khắp nơi trong nội thành theo kiểu mạng nhện. Công cụ hỗ trợ ta là cái này - Mười Thắng chỉ tay vào đầu - Nguồn tài chính duy nhất của ta là cái này - Mười Thắng chỉ tay vào ngực, nơi quả tim đang đập nhịp – Đây là sự nghiệp giải phóng đất nước, đánh đuổi bọn Mỹ cút về nước, giành lấy tự do, hòa bình và độc lập cho dân tộc ta. Ta cần những anh em nhiệt tình, chấp nhận hy sinh cá nhân cho đại cuộc.

Khánh Duy nắm chặt tay Mười Thắng:

- Tao theo mày tới cùng. Tình báo thì tình báo. Chơi luôn!

Mười Thắng vừa bắt tay vừa vỗ vai Khánh Duy:

- Trước mắt, anh móc nối với Họa sĩ Ớt vào lưới của anh nghen. Tôi sẽ thông báo cho anh bằng hòm thu mật từng nhiệm vụ cụ thể. Những anh em quen biết cũ, anh tin tưởng ai cứ rủ vào lưới.

Khánh Duy cười cợt:

- Có lẽ trên thế giới không quốc gia nào làm tình báo kiểu như anh em ta đâu hỉ.

Cả hai ôm nhau cười. Ngoài trời mây đã tan, mặt trăng hình lưỡi liềm cùng với hàng tỷ ngôi sao đã soi chút ánh sáng xuống cánh đồng.

Mười Thắng bịn rịn ôm vai bạn:

- Nếu còn thời gian tôi với anh làm một chầu rượu đế khô sặc. Nhưng anh phải về đến Sài Gòn trước khi trời sáng. Có thể anh sẽ rắc rối với tụi cảnh sát. Anh chuẩn bị tư thế nhé. Xin nợ anh cuộc nhậu, đến ngày giải phóng Sài Gòn, tôi trả mười cuộc.

Cả hai cười ha hả vang động cánh đồng khuya.

Còn tiếp ...

FaceBook  Twitter  

Page 1 of 4

Đang xem 695

Hôm nay 1,071

Tổng lượt xem 12,908,981