THỜI

GIAN

LÀM

VIỆC

24/24

 

HOTLINE : (08) 6270 0119 - (08) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

HÓA RỒNG VÀ CÁI GIÁ PHẢI TRẢ : 
+ ĐỘC TÀI - TÀN BẠO - PHI DÂN CHỦ - PHI NHÂN QUYỀN - NÔ LỆ NGOẠI BANG
+ MẠI DÂM - BỆNH TẬT - TỦI NHỤC - BĂNG HOẠI THẾ HỆ

  1. NÔ LỆ TÌNH DỤC PHILIPPINES TRONG THẾ CHIẾN II ĐÒI CÔNG LÝ

CÒN TIẾP.....


Gió Lành

NẾU ÔNG LÝ QUANG DIỆU KHÔNG QUYẾT ĐOÁN TỚI MỨC ĐỘC TÀI THÌ CÓ SIGAPORE HÔM NAY KHÔNG?

 

Hải Âu

 

Ông Lý Quang Diệu tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập và có chủ quyền mang tên CH Singapore trong buồn bã. Và ông đã đưa Singapore từ thế giới thứ 3 sang thế giới thứ nhất, đưa một nước từ nghèo nàn, chậm phát triển sang một một nước phát triển nhanh, trở thành biểu tượng của cả châu Á.

Singapore hiện nay còn là hình ảnh của một nơi đáng sống, nó là biểu tượng không chỉ về sự phát triển thuần túy về mặt kinh tế mà điều tôi muốn nói đó là biểu tượng đáng sống, gắn với những tư tưởng phát triển mới như: bền vững, thân thiện môi trường, thân thiện con người.

Câu hỏi đặt ra là liệu quốc đảo tươi đẹp này có được như ngày hôm nay không, nếu ông Lý không độc tài? Báo Thanh niên và nhiều báo đã viết:

"Lâm vào tình cảnh túng quẫn, đương nhiên cái ăn là thứ đầu tiên mà một người mẹ trong nhà phải tính tới. Nền kinh tế của Singapore lúc bấy giờ lệ thuộc chủ yếu vào các căn cứ quân sự sắp đóng cửa của Anh.

Chiến thuật cơ bản của Lý Quang Diệu ngay từ đầu là ra sức “tán tỉnh” các công ty nước ngoài đến mở các xưởng nhỏ ở Singapore, dù thường là họ trả những đồng lương rẻ mạt. Giữa thời điểm các nước đang phát triển ra sức dèm pha đế quốc kinh tế, nhà lãnh đạo Singapore trải thảm đỏ mời các “tên đế quốc” đó vào Singapore.

Học luật và từng hành nghề luật sư bảo vệ quyền lợi của nghiệp đoàn, Lý Quang Diệu lúc này kìm hãm nghiệp đoàn không thương tiếc, sợ họ làm cản bước nhà đầu tư.

Sau này ông gọi sự kiện bị một nghiệp đoàn hùng mạnh thách thức hồi năm 1967 là “bước ngoặc trong lịch sử công nghiệp Singapore”. Lần đó, ông Lý Quang Diệu đưa ra câu trả lời rất dứt khoát: bắt luôn 15 lãnh đạo nghiệp đoàn, xóa sổ nghiệp đoàn và tuyên bố các công nhân biểu tình đã tự sa thải họ.

Sau cú đấm thép đó, ông dẹp yên được các phong trào chống đối của người lao động, mang lại môi trường lao động bình yên lâu dài - yếu tố chen chốt đưa kinh tế Singapore bùng nổ."

Nếu ông Lý Quang Diệu không sử dụng biện pháp mạnh mẽ thì chắc chắn không thể có đất nước Sigapore như hôm nay. Xin khẳng định như vậy.

Nếu ông Lý lấn cấn vì sợ người dân trong nước chê bai là trọng nhà đầu tư nước ngoài, chấn áp doanh nghiệp trong nước thì không thể khiến môi trường lao động yên ổn, không thể có những bước tiến về kinh tế.

Nếu ông Lý không mạnh tay xử lý những công nhân biểu tình vì kém hiểu biết thì không thể làm được những chuyện lớn.

Đừng nhìn nhận thành quả ngày hôm nay của họ mà mơ màng rằng ta cũng sẽ có, nếu không chấp nhận những hy sinh.

Ngay chuyện cấm kẹo cao su, cấm thuốc lá thôi, nếu không quyết liệt thì liệu có đất nước thanh lịch, môi trường trong lành hay không?

Hãy tưởng tưởng xem, quyết định cấm kẹo cao su ở Việt Nam sẽ thế nào? Nào các rân chủ la lên là mất dân chủ, vi phạm quyền tự do còn người bla blu blo...

Nghịch lý là như vậy, muốn thì rất nhiều nhưng không chịu hy sinh cái gì cả.  


Hãy ngẫm nghĩ coi! 


hanquochoc.edu.vn

CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI PARK CHUNG HEE VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐẾN NỀN KINH TẾ

 

Lời nói đầu

            Trong bối cảnh của một đất nước đã trải qua thời kì phong kiến lâu dài, rồi đến thời kì thực dân và ngay sau đó là cuộc chiến tranh tàn khốc, một đất nước không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn vốn quốc nội, không có thị trường chín muồi. Nhưng Hàn Quốc đã đạt được đồng thời một cách ổn định cả thể chế chính trị dân chủ lẫn sự tăng trưởng kinh tế kỉ lục. Người ta đã gắn cho Hàn Quốc những cái tên như “ Kì tích bên sông Hàn” hay một trong “Bốn con rồng Châu Á”. Những đánh giá này cho thấy rõ thành tựu đáng kinh ngạc của Hàn Quốc.

            Các nhà chính trị học cho rằng sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc là do sự can thiệp của Nhà nước, của Chính phủ. Trong đó, không thể không nói tới chế độ độc tài Park Chung Hee. Ông là nhân vật có vai trò quan trọng nhất trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Hàn Quốc.

            Qua bài viết này tôi muốn giới thiệu khái quát về chế độ độc tài Park Chung Hee cùng với những chính sách phát triển kinh tế của ông trong việc hiện đại hóa kinh tế bước đầu ở Hàn Quốc.

            Trong bài viết này cũng không tránh khỏi những sai sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn, xin chân thành cảm ơn !

  1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI :
    1. Khái niệm :

Nói tới chế độ độc tài là nói tới một cấu trúc chính trị quản lý xã hội mà trong đó quyền lực chính trị tập trung vào tay một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân cùng với việc giải tán hay làm giảm vai trò của các cơ quan đại diện (Quốc hội) và các đảng phái chính trị đối lập. Và nó dựa vào sự ủng hộ và hậu thuẫn vững chắc của Quân đội.

  1. Cơ sở phân loại :

-        Các nhà chính trị học phương Tây dựa vào mục đích của chế độ độc tài để phân chế độ độc tài thành : “chế độ độc tài phát triển” (Hàn Quốc) và “chế độ độc tài phản phát triển” (Pakistan và một số nước Châu Phi).

-        Các nhà chính trị học Mác – xít dựa trên tính chất quyền lực chính trị và phương pháp quản lý xã hội để phân chế độ độc tài thành : “chế độ độc tài hợp hiến” và “chế độ độc tài quân sự”.   

  1. Vai trò của chế độ độc tài:

Chế độ độc tài có hai mặt :

-        Tích cực : các chế độ độc tài phát triển làm thay đổi diện mạo nền kinh tế, thay đổi diện mạo xã hội ( lực lượng nông dân giảm, giai cấp tư sản và vô sản tăng) ; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, văn hóa có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

-        Tiêu cực : chế độ độc tài chống dân chủ một cách kiên quyết. Vì thế đã đàn áp dã man các cuộc đấu tranh đòi dân chủ của công nhân và sinh viên, trí thức…làm cho xã hội bất ổn và mâu thuẫn giữa nhà cầm quyền và nhân dân ngày càng sâu sắc.

Tóm lại, chế độ độc tài là chế độ chính trị hình thành trong điều kiện xã hội quá độ lên chủ nghĩa tư bản hiện đại. Mà ở chế độ chính trị đó quyền lực mang tính chất tập trung.

  1. NỘI DUNG

1.      Chế độ độc tài Park Chung Hee (1961 – 1979)

1.1              Quá trình hình thành

Nhà nước cộng hòa lần thứ hai do Yoon Bo – sun làm tổng thống và Jang Mien làm tổng thư kí quốc vụ đã ra đời vào tháng 8 cùng với năm nhà nước Cộng hòa đầu tiên sụp đổ. Nhưng chính quyền này chỉ tồn tại được trong 9 tháng và cũng bị sụp đổ do cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961 do Park Chung Hee đứng đầu.

Cuộc đảo chính thành công đã kết liễu chế độ dân chủ đại nghị và đặt cơ sở cho sự xác lập và hoạt động của một mô hình quản lý xã hội mới. Đại tướng Park Chung Hee – người cầm đầu cuộc đảo chính sau 2 năm nắm quyền là chủ tịch “ Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia” đã tranh cử và trúng cử tổng thống đồng thời với việc chuyển giao sang chính quyền dân sự ; thâu tóm toàn bộ quyền lực và hợp hiến hóa chức vụ lãnh đạo Nhà nước. Thông qua hoạt động của “ Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia” Park Chung Hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào dân chủ chống đối. Tháng 12 năm 1962, sau khi dùng Quân đội đàn áp và dập tắt phong trào sinh viên và các mầm mống dân chủ thắng lợi, thong qua trưng cầu dân ý và điều khoản bổ sung Hiến pháp, lập kế hoạch vận động cho cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 15 tháng 10 năm 1963. Cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí ngột ngạt và căng thẳng dưới sự kiểm soát của Quân đội. Và cuối cùng, Park Chung Hee đã thắng cử với số phiếu bầu chênh lệch rất nhỏ để trở thành tổng thống Hàn Quốc.

Park Chung Hee – người đã thiết lập chế độ độc tài đầu tiên ở Hàn Quốc đã từng là thầy giáo trong thời kì thực dân, sau đó theo học trường sĩ quan lục quân Nhật Bản và trở thành sĩ quan chỉ huy. Ông là người lạnh lung, có năng lực nhưng cũng rất độc tài và chuyên chế. Chế độ độc tài Park Chung Hee được các nhà chính trị học phương Tây gọi là “Chế độ độc tài phát triển”, là chế độ chính trị xác lập nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị để tiến hành thành công hiện đại hóa kinh tế.

1.2              Tìm hiểu về cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội dưới chế độ độc tài Park Chung Hee

1.2.1        Kinh tế

Ngay sau thành công của cuộc đảo chính, nhà nước Cộng hòa thứ 3 của Park Chung Hee từ năm 1962 đã bắt đầu cho tiến hành kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962 – 1966) ; 5 năm lần thứ hai (1967 – 1971) ; 5 năm lần thứ ba (1972 – 1976) ; 5 năm lần thứ tư (1977 – 1981). Điều này đã vạch trước kế hoạch tương lai dài kì của kinh tế quốc gia và còn có ý nghĩa là xây dựng chiến lược để biến nó thành hiện thực. Nền kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn này có sự can thiệp rất lớn của Nhà nước.

Hàn Quốc đã phát triển ngành công nghiệp nặng theo chính sách công nghiệp của chính phủ. Đặc biệt là nền công nghiệp hóa dầu, điện tử, đóng tàu với tiêu chuẩn cao nhất thế giới. Ngành công nghiệp ô tô của Hàn Quốc đã thoát khỏi hình ảnh là loại ô tô kém chất lượng với giá rẻ trên thị trường Mĩ. Trái ngược với nền công nghiệp nặng phát triển thì nền nông nghiệp lại suy thoái và rơi vào tình trạng trì trệ. Để tiến hành công nghiệp hóa với xuất khẩu làm chủ đạo, chính phủ đã duy trì chính sách hạ giá nông sản. Mặt khác, diện tích đất bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

Một thay đổi mang tính kinh tế quan trọng nữa đã xảy ra tron thời kì này là sự xuất hiện của các tập đoàn doanh nghiệp lớn mà ngày nay chúng ta gọi là Chaebol. Một số Chaebol có lịch sử lâu đời như Doosan hay Shimyang. Các doanh nghiệp này mang đặc trưng rất đáng chú ý là đều được sở hữu và vận hành theo kiểu gia đình trị.

Ngoài ra còn có lực lượng lao động đông đảo với giá nhân công rẻ mạt từ nông thôn ra đô thị làm thuê.

Một yếu tố rất quan trọng nữa, đó là Hàn Quốc có một khoản tiền lớn từ sự viện trợ kinh tế nhận được từ Nhật Bản. Điều này đã giúp cho chính sách phát triển công nghiệp nặng của Hàn Quốc diễn ra suôn sẻ và thu được nhiều thành công.

1.2.3        Chính trị

Mọi hoạt động chính trị trong thời kì này đều nằm dưới sự chi phối của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia”. Đây là một cấu trúc siêu quyền lực, đặt lên trên cơ cấu chính quyền dân sự lúc đó. Thành công của hội đồng khoảng 30 người, là những tướng lĩnh cao cấp, trung thành và tin cẩn của Park Chung Hee. Tổ chức này đã trở thành công cụ chuyên chế của Park Chung Hee, là nơi phác thảo đường lối phát triển của đất nước, đồng thời là cơ quan soạn thảo các chính sách chống dân chủ, chống cộng sản.

Về đối nội, sự đàn áp chính trị trong thời gian Park Chung Hee nắm quyền là rất cao. Ban hành sắc lệnh chống công nhân, cấm mítting, biểu tình, diễu hành, đàn áp dã man các phong trào đấu tranh chống đối chính phủ, đòi dân chủ hóa xã hội. Xây dựng tổ chức thân chính phủ bên trong các tổ chức công đoàn của công nhân để giám sát và kìm hãm phong trào đấu tranh của họ.

Mặc dù với tình hình chính trị như vậy nhưng trong cuộc Duy Tân tháng 10 được tiến hành vào năm 1972 đã khuấy động tinh thần của người dân Hàn Quốc vốn khao khát chủ nghĩa dân chủ. Trong tình trạng thiết quân luật bất thường được ban bố thì Quốc hội bị giải tán tạm thời và ngay cả hoạt động chính trị cũng bị cấm toàn bộ. Cuộc bầu cử tổng thống được tiến hành theo chế độ trực tiếp bị đổi sang bầu cử gián tiếp do Uỷ ban quốc dân chủ trì thống nhất. Tổng thống có quyền tiến cử thành viên Quốc hội và giải tán Quốc hội. Thực chất là đã mở ra con đường để có thể trở thành tổng thống suốt đời  với vị trí quyền uy tuyệt đối.

Về đối ngoại, thôn tính Bắc Triều Tiên không bằng con đường vũ lực mà bằng con đường kinh tế ; thực hiện chính sách thân Mĩ, thân phương Tây, thù địch với Liên Xô và các nước XHCN. Bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản vào năm 1965.

Lực lượng quân đội và cảnh sát được chính trị hóa cao độ. Lực lượng quân đội được trang bị hùng mạnh, hiện đại. Hàn Quốc đã trở thành một căn cứ quân sự mạng của Mĩ ở Đông Nam Á. Quân đội Hàn Quốc bị biến thành đạo quân lê dương đánh thuê ở chiến trường Việt Nam và là lực lượng đàn áp hung bạo trong nước.

1.2.3        Xã hội

Xét về mặt xã hội, đây là thời kì diễn ra sự cải tổ toàn diện về tính di động trong tổ chức và cơ cấu giai cấp theo quá trình công nghiệp hóa. Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hóa đã tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ về mặt xã hội chưa từng có trên toàn thế giới. Giấc mơ rằng chỉ cần nỗ lực cố gắng thôi thì cũng có thể bước lên một tầng lớp mới đã trở thành hiện thực và trong xã hội cơ cấu giai tầng càng được cải tổ toàn diện thì tham vọng thành đạt đã trở thành động cơ bên trong của mỗi người dân. Đa số nông dân nghèo đã rời nông thôn ra đô thị làm hình thành nên tầng lớp dân nghèo đô thị. Vì vậy mà lực lượng nông dân đã giảm đi. Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp thì một số người đã trở nên giàu có và trở thành giai cấp tư sản, ngược lại nông dân nghèo ra thành thị làm thuê đã biến thành giai cấp vô sản đông đảo. Trong xã hội lúc này đã có sự phân hóa rất lớn giữa người giàu và kẻ nghèo, ông chủ và lao động làm thuê...

Dưới chế độ độc tài Park Chung Hee, nền kinh tế đã có nhiều thay đổi, diện mạo xã hội cũng thay đổi theo xu hướng phát triển của một nước đang quá độ lên CNTB. Quyền lực chính trị mang tính chất chuyên chế, tập trung quyền lực cao. Chế độ độc tài Park Chung Hee đã làm thay đổi diện mạo của Hàn Quốc, góp phần đưa đất nước phát triển theo con đường CNTB trong tương lai.

  1. Tác động của chính phủ đến nền kinh tế - các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước

Vào những thập niên 1960 – 1970, nếu tách rời vai trò của Park Chung Hee sẽ không thể hiểu được thời kì đầu của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc. Ông đã xây dựng quốc gia phát triển theo kiểu nhà nước chỉ đạo tăng trưởng kinh tế. Ở Hàn Quốc, nếu như không có “Tổ chức phát triển” thì thật khó mà tạo được nguồn động lực cho tăng trưởng như ngày nay. Sự xuất hiện và thoái trào của quốc gia phát triển kiểu Hàn Quốc gắn liền với Park Chung Hee.

Park Chung Hee theo đuổi hệ thống chiến tranh lạnh đang diễn ra trên toàn thế giới và đấy mạnh hơn nữa chủ nghĩa chống cộng, đồng thời, dưới sự ủng hộ của Mĩ ông đã thúc đẩy chiến lược công nghiệp hóa theo hình thức xuất khẩu do Nhà nước làm chủ đạo. Để làm được điều này, ông đã tiến hành bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, vốn là quốc gia mà hầu hết người dân Hàn Quốc đều từ chối đặt quan hệ, và sử dụng nguồn viện trợ kinh tế nhận được từ Nhật Bản làm nguồn tài vốn thời kì đầu cho công cuộc công nghiệp hóa. Đồng thời, thông qua việc tham chiến tại Việt Nam cùng với Mĩ, chính phủ Park Chung Hee đã lôi kéo về cho mình một nguồn viện trợ kinh tế to lớn. Ở trong nước, ông tiến hành đàn áp tàn nhẫn những người lao động đòi phân phối lại nguồn lực kinh tế, những thế lực chính trị yêu cầu dân chủ hóa và những khuynh hướng đòi cải thiện quan hệ với Bắc Triều Tiên, đồng thời tiến hành cải tổ với trọng tâm là tính năng suất và sự lãnh đạo có tổ chức. Nhờ đó mà trong vòng 18 năm nắm quyền, ít nhất về mặt kinh tế, Hàn Quốc cũng đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế đáng kể.

Chính phủ Hàn Quốc thời kì này đã sử dụng các khoản viện trợ từ nước ngoài để mở rộng cơ sở hạ tầng cho công nghiệp trong nước. Bước vào những năm 1970, cùng với việc ban hành Hiến pháp, chính phủ xây dựng chế độ độc tài chuyên chế về mặt chính trị đồng thời triển khai chính sách công nghiệp hóa ngành hóa học và công nghiệp nặng với quy mô lớn cần đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc như : điện tử, hóa dầu, đóng tàu, ô tô, gang thép. Thực tế, thời kì này đầu tư vào ngành công nghiệp như vậy dưới con mắt của người Hàn Quốc và ngay cả nước ngoài là rất khó thực hiện. Đảng Shinmin – một đảng đối lập thời kì này đã phản đối kịch liệt việc xây dựng đường cao tốc Gyeongpu nối liền Busan với Seoul năm 1968 khi cho rằng “ dù có xếp thành hàng số ô tô của cả nước thì cùng không thể kín hết đường cao tốc Gyeongpu”. Khi Hàn Quốc tìm đến ngân hàng thế giới để vay khoản tiền nhằm sử dụng làm nguồn vốn xây dựng và ôm tham vọng xây dựng khu chế xuất thép tổng hợp Pohang, người ta nói rằng phó thống đốc ngân hàng thế giới đã từ chối cho vay bằng câu nói : ở một quốc gia đang phát triển thì có hai sự hoang đường. Một là sẽ cho xây dựng khu công nghiệp thép tổng hợp. Hai là đúc tượng đồng của các nhà lãnh đạo chính trị đang còn sống.

Vấn đề đặt ra cho  Hàn Quốc lúc này là việc huy động vốn Hàn Quốc bị ngân hàng thế giới từ chối cho vay vốn đã dùng hơn một nửa trong số 500 triệu USD được gọi là tiền Nhật bồi thường khi bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản để đầu tư xây dựng nhà máy thép Pohang cùng với sự tăng giá dầu trên toàn thế giới vào những năm 70, nguồn tiền mà Hàn Quốc có được nhờ bán dầu (đô la dầu lửa) cũng đã trở thành nguồn vốn quan trọng. Việc lập quỹ với quy mô lớn như lập quỹ đầu tư trong nhân dân cũng được thiết lập và cấp vốn giá rẻ cho doanh nghiệp, duy trì lãi xuất cho vay của ngân hàng thấp. Tất cả các nguồn vốn đều do nhà nước trực tiếp đứng ra mới có khả năng huy động. Việc lập kế hoạch hiệu quả, dự đoán sự chuyển động của thị trường tương lai và đầu tư vào ngành công nghiệp nào đó gọi là chính sách công nghiệp. Bên cạnh đó, việc huy động phương tiện tín dụng như vậy để hậu thuẫn cho chính sách công nghiệp gọi là chính sách tín dụng. Như vậy, dưới sự can thiệp của bàn tay nhà nước, chính sách kinh tế của quốc gia phát triển trở nên có hiệu quả khi thông qua sự kết hợp của chính sách công nghiệp với chính sách tín dụng như vậy.

Qúa trình tiến hành một cách nhất quán kế hoạch của chính phủ đối với ngành công nghiệp cần đầu tư nhiều vốn này đã hình thành nên các tập đoàn công nghiệp có quy mô lớn của Hàn Quốc là Chaebol. Chính phủ đã bảo lãnh tài chính cho các tập đoàn này. Vượt qua khuôn khổ cả việc bảo lãnh nợ cho các tập đoàn này, chính phủ cũng trực tiếp xây dựng kế hoạch và điều hành nền kinh tế vĩ mô. “ Viện kinh tế kế hoạch” do Park Chung Hee thành lập chính là cơ quan đảm trách nhiệm vụ này. Những tập đoàn kinh tế hiện nay của Hàn Quốc đại bộ phận đều được chuẩn bị nền móng cho sự phát triển từ những công ty thời kì này, đều được sự hỗ trợ tài chính của chính phủ.

Dưới chế độ độc tài Park Chung Hee, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế bước đầu ở Hàn Quốc đã đi đến thành công. Kiểu hoạt động kinh tế của Hàn Quốc khiến ta liên tưởng đến phương thức hoạt động của doanh nghiệp. Toàn quốc gia chuyển động giống như là một “công ty cổ phần Hàn Quốc”, trong đó ngân hàng là bộ phận chịu trách nhiệm vấn đề tài chính, ngành công nghiệp là bộ phận chịu trách nhiệm maketting và sản xuất, còn chính phủ đóng vai trò là bộ phận kế hoạch và quản lý. Sự tăng trưởng vai trò của nhà nước trong quản lý nền kinh tế và hoạch định các chính sách kinh tế là một yếu tố rất quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc.

  1. Sự sụp đổ của chế độ độc tài Park Chung Hee

Từ nửa sau những năm 70, xã hội Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Chính sách phản dân chủ của chính quyền Park Chung Hee đã dấy lên phong trào chống đối chính phủ mạnh mẽ của mọi tầng lớp. Cuộc khởi nghĩa ở thành phố Kwangju tháng 5 năm 1979 đòi dân chủ hóa phản đối biện pháp quản lý độc tài và yêu cầu Park Chung Hee từ chức. Phong trào sinh viên – thanh niên đã lôi kéo hàng ngàn lao động khác tham gia.

Trước tình hình đó thì nội bộ giai cấp thống trị cũng bị phân hóa : một bên là lực lượng bảo thủ cực đoan chủ trương duy trì quản lý xã hội bằng phương pháp mạnh ; một bên là những người dân chủ với hai đại diện tiêu biểu là Kim Young San và Kim Dae Jung đòi hỏi thay thế phương pháp quản lý độc tài bằng phương pháp dân chủ.

Tổng thống Park Chung Hee từng là tướng chỉ huy trong quân đội và là người lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế rực rỡ của Hàn Quốc khiến cả thế giới ngạc nhiên đã tử nạn do trúng đạn của giám đốc cơ quan tình báo trung ương ngay tại bữa tối có sự tham dự của giám đốc cơ quan tình báo trung ương, trưởng phòng cận vệ và trưởng phòng thư kí của mình vào ngày 26 tháng 10 năm 1979 kết thúc 18 năm cầm quyền. Khi ấy, chính sách công nghiệp cũng bị dự tính sẽ chính thức kết thúc vào cuối năm 1979 nên thời kì này gần như được coi là thời kì bắt đầu sự thoái trào của quốc gia phát triển kiểu Hàn Quốc cả về mặt chính sách cũng như thực tiễn.

  1. KẾT LUẬN

Đánh giá vai trò của Park Chung Hee trong thời gian nắm quyền tổng thống Hàn Quốc có nhiều nhận định trái ngược nhau về vai trò và sự lãnh đạo của ông. Những người phản đối tính độc tài, phi dân chủ và thân Nhật của Park Chung Hee thì nhấn mạnh vào những mặt tiêu cực của thời kì này như việc ông đã tiến hành đàn áp phong trào lao động, phong trào đòi dân chủ...Những người đề cao tính kế hoạch , sức thúc đẩy và chủ nghĩa thành quả thì lại coi ông là nhân vật có vai trò quan trọng nhất trong qua trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Hàn Quốc. Nhưng ta phải công nhận một điểm là thời đại Park Chung Hee đã trở thành nền đá tảng của kinh tế Hàn Quốc ngày nay.

Park Chung Hee đã thiết lập ở Hàn Quốc một chế độ độc tài quân sự mang tính chất chuyên chế độc đoán, chống dân chủ mạnh mẽ nhưng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với diện mạo nền kinh tế và xã hội. Nó góp phần định hướng cho sự phát triển của xã hội Hàn Quốc trong tương lai, đó là con đường quá độ lên chủ nghĩa tư bản hiện đại. Một đất nước Hàn Quốc với chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế phát triển cao (đứng thứ 10 thế giới) , đời sống vật chất và tinh thần của người dân phát triển cao như ngày nay, không thể không nhắc tới những đóng góp to lớn của chế độ độc tài Park Chung Hee cùng với những chính sách phát triển kinh tế của ông trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Hàn Quốc./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. “Xã hội Hàn Quốc hiện đại” của Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học. Do Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội xuất bản 2008.
  2. “Hệ thống chính trị Hàn Quốc hiện nay” của PGS.TS Hoàng Văn Việt. Do Nhà xuất bản ĐHQG TP.HCM  xuất bản 02/04/2009.


Park Chung Hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 
Park Chung-hee
박정희
Park Chung hee.jpg
Chức vụ
Tổng thống Hàn Quốc
Nhiệm kỳ 24 tháng 3, 1962 – 26 tháng 10, 1979
Tiền nhiệm Yun Bo-seon
Kế nhiệm Choi Kyu-hah
Chủ tịch Hội đồng tối cao tái thiết Quốc gia
Nhiệm kỳ 3/7/1961 – 17/12/1963
Phó Chủ tịch từ 16 tháng 5 năm 1961
Tiền nhiệm Chang Do-yong
Kế nhiệm Hủy bỏ
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Dân chủ Cộng hòa
Sinh 14 tháng 11, 1917
Gumi, Gyeongsang Bắc, Triều Tiên thuộc Nhật
Mất 26 tháng 10, 1979 (62 tuổi)
Nhà Xanh, Jongno-gu, Seoul, Hàn Quốc
Alma mater Trường Sĩ quan Lục quân (Đế quốc Nhật Bản)
MIA
Tôn giáo Phật giáo
Vợ Yuk Young-soo
Con cái Park Geun-hye
Park Seo-yeong
Park Ji-man
Chữ ký Park Chung-hee signature.svg
Binh nghiệp
Phục vụ  Đế quốc Nhật Bản
 Mãn Châu quốc
 Hàn Quốc
Thuộc  Đế quốc Nhật Bản Lục quân Đế quốc Nhật Bản (1942-1945)
 Mãn Châu quốc Lục quân Mãn Châu (1941-1945)
 Hàn Quốc Lục quân Đại Hàn Dân Quốc (1945-1963)
Năm tại ngũ 1942–1963
Cấp bậc 대장 견장.JPG Đại tướng
Tham chiến Chiến tranh Trung-Nhật
Thế chiến 2
Tên người Triều Tiên
Bak Jeonghui
Hanja  
朴正熙
Bút danh
Hangul 중수
Hanja  
中樹
Romaja quốc ngữ Jungsu
McCune–Reischauer Chungsu

Park Chung Hee hay Bak Jeonghui (Chosŏn'gŭl: 박정희; Hanja: 朴正熙) (1917 – 1979, chuyển âm: Pác-choong-hi) là một nhà hoạt động chính trị người Đại Hàn, Đại tướng, Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Ông trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ:[1] từ ngày 17 tháng 12 năm 1963 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc.[1]

Tiểu sử

Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước nữa, mà vươn lên trở thành một trong những con hổ của châu Á. Về mặt quân sự, ông thực hiện chính sách liên minh với Mỹ, và phái quân sĩ sang chiến đấu tại chiến trường Miền Nam Việt Nam.[1] Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học.[2] Điều này đã dẫn đến Vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, do giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc thực hiện.[1] Dù Park Chung Hee đã ra lệnh không cho phép phụ nữ mặc váy ngắn khi đi trên phố phường, về đêm ông thường dự tiệc cùng những phụ nữ trẻ tuổi. Năm 1999, ông được tạp chí Timechọn là một trong 100 người châu Á tiêu biểu của thế kỉ 20. Ông vừa là một vị Tổng thống được nhân dân Đại Hàn mến mộ nhưng đồng thời bị chỉ trích như một lãnh đạo độc tài.[2]

Sự nghiệp

 
Park (third left) at the 1966SEATO convention in thePhilippines.

Theo yêu cầu của Hoa Kỳ, Park đã điều động gần 320,000 lính Nam Hàn tham chiến tại Việt Nam; đây là số lượng lính tham chiến nhiều thứ hai tại Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.[3] Lý do của việc tham chiến của quân đội Nam Hàn nhằm mục đích duy trình mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Mĩ, ngăn ngừa học thuyết Domino tại Đông Á [4] và nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên chính trường quốc tế. Tháng 1 năm 1965, khi đề xuất triển khai quân đội được Quốc hội thông qua với 106 phiếu thuận và 11 phiếu chống,[5] Park tuyên bố rằng "đây chính là thời điểm Hàn Quốc chuyển từ vị thế bị động sang vai trò chủ động đối với các vấn đề quốc tế."[6]

Bên cạnh những lý do chính trị, việc tham chiến của Hàn Quốc cũng được cho là xuất phát từ động cơ tài chính. Quân đội Hàn Quốc được chi trả bởi chính phủ liên bang Hoa Kỳ và số tiền này, khoảng 10 tỉ đô la Mĩ, được chuyển thẳng đến chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức trợ cấp, cho vay, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các tổng thống Johnson và Nixon.[7]

Gia đình

  • Cha: Phác Thành Bân (박성빈)(1871 - 1938)
  • Mẹ: Bạch Nam Nghĩa (백남의)(1872 - 1949)
  • Phu nhân: Lục Anh Tu (육영수)(1925 - 1974) kết hôn năm 1950
  • Trưởng nữ: Phác Cận Huệ (박근혜)(1952 -)
  • Thứ nữ: Phác Cận Lịnh (박근령)(1954 - )
  • Trưởng tử: Phác Chí Vãn (박지만)(1958 - )

    Chú thích

     Phương tiện liên quan tới Park Chung-hee tại Wikimedia Commons

    1. ^ a ă â b Mục từ Păc Chung Hi trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam
    2. ^ a ă Hàn Quốc mổ xẻ di sản của Park Chung Hee
    3. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 248 (Homa & Sekey, 2006)
    4. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 258 (Homa & Sekey, 2006)
    5. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 253 (Homa & Sekey, 2006)
    6. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 260 (Homa & Sekey, 2006)
    7. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.


Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Hàn Quốc: Hoá rồng, độc tài và dân chủ

  HỒ SĨ QUÝ

Hàn Quốc là tấm gương chưa từng có tiền lệ trong lịch sử để các nước đi sau nghiên cứu, tham khảo. Nhưng con đường tăng trưởng, phát triển rồi hóa rồng thông qua phương thức độc tài để đi đến dân chủ ở Hàn Quốc là một quá trình nghiệt ngã, đầy mâu thuẫn và không nên đánh giá một cách giản đơn.

Bài viết này muốn tìm hiểu quá trình phức tạp này.

Quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc được tiến hành từ năm 1961 đến năm 1991. Trong ba thập kỷ đó, Hàn Quốc từ một nước nghèo nàn, lại bị tàn phá trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, trở thành một trong những nước công nghiệp mới (NIC - Newly Industrialized Countries) hùng mạnh nhất về mặt kinh tế của thế giới thứ ba. Tính từ năm 1963 đến 1978, GNP thực tế của Hàn Quốc tăng với tốc độ hàng năm gần 10% và với tốc độ tăng trưởng thực tế trung bình hơn 11% trong suốt những năm từ 1973 đến 1978. Hơn thế nữa, tính đến nay chất lượng tăng trưởng của Hàn Quốc vẫn thuộc loại cao nhất so với các nước cùng có tốc độ tăng trưởng cao trên dưới 10%. Năm 1963, GDP theo đầu người ở Hàn Quốc mới đạt 100 USD. Đến đầu những năm 80 đã vượt quá 2000 USD, đầu những năm 90 vượt qua ngưỡng 10.000 USD và đến 2010 đã vượt quá 30.000 USD. Theo đánh giá của một số học giả, Hàn Quốc là tấm gương nổi bật nhất về phát triển kinh tế dài hạn thành công[1].
Sự phát triển nhanh và ngoạn mục của Hàn Quốc trong 3 thập niên, trước hết, là kết quả của sự kết hợp một cách hữu hiệu các nhân tố kinh tế với các nhân tố xã hội trong điều kiện thuận lợi của hoàn cảnh quốc tế: Sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, chính sách hợp lý và kiên quyết của chính phủ những năm 60-70 nhằm vào các ngành công nghiệp cần nhiều lao động và ưu tiên xuất khẩu, tính linh hoạt rất cao trong quản lý và thái độ sẵn sàng ứng phó trước những tín hiệu phát sinh từ nền kinh tế, tỉ lệ ngày càng cao về người lớn biết chữ và sự cần cù của dân chúng, “sự chống lưng” của Mỹ và những lợi thế được hưởng từ dòng chu chuyển vốn quốc tế, trật tự thương mại quốc tế nửa cuối thế kỷ XX và những ưu tiên của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh... - đó chắc chắn là những nhân tố đã làm cho Hàn Quốc hóa rồng và tiếp tục phát triển.
Nhưng dù những nhân tố nói trên có quan trọng đến mấy, thì đến nay nhiều học giả vẫn cho rằng, nhân tố con người mới là cái quyết định trong quá trình công nghiệp hoá của Hàn Quốc: Ý chí cháy bỏng vươn tới thịnh vượng của người dân và lãnh đạo đất nước, sự quản lý nghiêm minh, hà khắc và độc đoán của nhà cầm quyền... đã là cái rất đáng kể làm nên một Hàn Quốc như thế giới được chứng kiến hôm nay.
Hàn Quốc những năm 60'
Hàn Quốc ngày nay
II.
Ngay sau khi đảo chính nắm chính quyền 7/1961, tướng Park Chung Hee đã “dọn rác” làm sạch xã hội[2] với hàng ngàn vụ bắt bớ và tuyên bố trước 20.000 sinh viên đại học Seoul: “Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn được sống còn. Trong vòng 10 năm, chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu ở Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta. Hôm nay, có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi. Nhưng xin những đồng bào ấy hiểu cho rằng tổ quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi không muốn mỵ dân. Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng đã đề ra”[3].
Về sau người ta thừa nhận rằng, Park Chung Hee đã làm đúng như lời ông nói.
Park Chung Hee
Park Chung Hee cầm đầu đảo chính năn 1961,
làm tổng thống từ 1963 đến 1979, bị ám sát năm 1979
 
Với 18 năm cầm quyền, mở đầu bằng đảo chính và kết thúc bằng bị ám sát, Park Chung Hee là tổng thống được nhiều người ngưỡng mộ và đồng thời là nhà độc tài số một của Hàn Quốc bị căm ghét. Thời kỳ Triều tiên bị Nhật chiếm đóng, Park Chung Hee là quân nhân phục vụ trong quân đội Nhật tại Mãn Châu. Sau chiến tranh Nam Bắc Triều, ông tham gia quân đội Hàn Quốc và giữ chức thiếu tướng trước khi lên nắm quyền bằng cuộc đảo chính năm 1961. Dưới chính thể Park Chung Hee, Hàn Quốc trỗi dậy mạnh mẽ từ đói nghèo “truyền thống” và trở thành con hổ châu Á. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào tạo được sự trung thành cũng như khiến người dân sợ hãi nhiều như Park Chung Hee. Ông được đánh giá là bộc trực, cứng rắn, hiểu truyền thống Hàn Quốc và có tầm nhìn xa trông rộng.
Với chính quyền độc tài quân sự, từ năm 1962 Hàn Quốc bắt đầu những kế hoạch phát triển đầy tham vọng mà “duy kinh tế cực đoan” là cách thức chủ yếu nhằm thoát nghèo.
Năm 1960 GDP Hàn Quốc chỉ là 82 USD/người/năm tương đương với Việt nam lúc đó. Sau 10 năm Hàn Quốc đã bước vào ngưỡng đầu tiên của thu nhập trung bình 1000 USD/người/năm như Việt Nam hiện nay. Đến năm 1975, GDP Hàn Quốc là 1.310 USD/người/năm. Chỉ trong vòng chưa đầy 20 năm, từ 1000 USD Hàn Quốc đã đạt tới mức 10.000 USD/người/năm vào năm 1992, trở thành nước công nghiệp mới[4].
Kế hoạch phát triển kinh tế lúc đó đi theo mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu. Để người lao động có thể sống với mức lương thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp giữ giá những sản phẩm nông nghiệp ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, công nghiệp Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước dùng TV trắng đen. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Allen Patric, đại diện công ty Ford Motor ở Seoul, đã nói với ký giả Boyd Gibbons: “Tôi đã làm việc ở Brasil, Mexico và châu Âu , nhưng không ở đâu tôi thấy người dân làm việc siêng năng như người Hàn Quốc. Ngay người Nhật cũng trở thành lười nếu so sánh với họ”[5].
Trong các công trình tạo nên sự bứt phá của Hàn Quốc, cuối những năm 60, Park Chung Hee đã thực hiện được một kỳ công là xây dựng xa lộ lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc, từ thủ đô Seoul tới hải cảng Pushan phía nam. Khi nêu dự án xây dựng xa lộ 4 làn xe, xuyên qua địa thế núi non hiểm trở, quốc hội Hàn Quốc đã thẳng tay bác bỏ. Nhiều người thân thuộc của Park Chung Hee cũng không tin. World Bank và các cơ quan tài chính quốc tế cảnh báo việc xây dựng con đường sẽ dẫn quốc gia tới phá sản, vì phí tổn xây dựng và bảo trì. Nhưng Park Chung Hee không nản lòng. Ông nghiên cứu kỹ những tài liệu và dùng trực thăng xem xét thực tế toàn thể địa hình nơi con đường sẽ đi qua.
Xa lộ Seoul - Pushan lúc mới hoàn thành
Xa lộ Seoul - Pushan hiện nay
Ngày 1/2/1968, ông ra lệnh khởi công và Hàn Quốc bắt tay vào xây dựng xa lộ 428 km, với hơn 200 cây cầu và 6 đường hầm chính. Công trình hoàn thành 30/6/1970. Các chuyên gia ADB đánh giá, với phí tổn 330 USD/km, đây là chi phí thấp nhất trong lịch sử xây dựng loại xa lộ này. Ngay 3 năm đầu, xa lộ Seoul - Pushan đã được sử dụng hữu hiệu, có tới 80% lượng xe lưu thông sử dụng xa lộ này. Về tinh thần dân tộc biểu lộ qua việc xây dựng xa lộ, ngày nay người ta vẫn còn nhắc đến lời thề mà đội ngũ chuyên gia - kỹ thuật lúc đó đã hứa với Park Chung Hee: “Nguyện hiến thân cho Tổ quốc phồn vinh, cho nhân dân hạnh phúc. Chịu bất cứ hình phạt nào nếu không hoàn thành nhiệm vụ”[6].
Dưới thời Park Chung Hee, tiết kiệm là quốc sách. Trong nhiều bài diễn văn, ông đã nhắc đi nhắc lại: “Mỗi xu ngoại tệ là một giọt máu”[7]. Park Chung Hee cũng điển hình là một Tổng thống liêm khiết, làm Tổng thống 19 năm mà khi chết tài sản của ông chỉ có trên 10.000 USD.
III.
Nhưng Hàn Quốc thời Park Chung Hee cũng là thời kỳ tồi tệ nhất về phương diện xã hội. Dưới chính thể độc tài quân sự (1961-1987), xã hội Hàn Quốc tồn tại và vận động theo ba nguyên tắc “chống cộng”, “nhà nước độc tài” và “phát triển kinh tế”.
Park Chung Hee đã hết mình với phát triển kinh tế và không chấp nhận bất kỳ sự hoài nghi nào từ bất kỳ ai. Chính quyền tạo điều kiện và khuyến khích các tập đoàn, các nhà tư bản sử dụng nhân công giá rẻ. Những năm 60-70, điều kiện sống của những người lao động di cư từ các khu vực nông nghiệp đến các thành phố và khu công nghiệp hết sức cực khổ. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa. Chính quyền không ngần ngại hy sinh quyền lợi của mọi tầng lớp lao động. Và mọi thứ đều buộc phải chấp nhận vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng từ Tổng thống đến dân chúng. Làm việc nặng nhọc và triền miên như khổ sai, nhưng sống kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc ngoại nhập, không uống cà phê. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động tồi tệ, lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền thời đó đã đàn áp không thương tiếc. Các quyền dân chủ cơ bản, như quyền tự do hội họp, tự do lập hội, tự do bày tỏ ý kiến… đều bị chà đạp[8]. Như Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về kinh tế của tờ Time (Mỹ) về sau nhận định: “Chế độ Park Chung Hee thực hiện quyền kiểm soát nhà nước đối với nền kinh tế tàn bạo vượt xa cả con quỷ Sahashi”[9].
 
Cảnh sát bắt người giữa phố những năm 70'
Về mặt pháp lý, đến tận hôm nay, chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên vẫn chưa kết thúc, mà mới chỉ là trong tình trạng đình chiến. Tâm lý sợ hãi chiến tranh đã bị lạm dụng gây nên một kiểu tinh thần đối đầu ngay trong đời sống tinh thần Hàn Quốc. Tư tưởng chống cộng được thổi phồng. Thái độ chống cộng là thứ “ngáo ộp” tạo ra một quyền uy tuyệt đối của nhà nước nhằm phát triển kinh tế, tận dụng lao động và khống chế toàn bộ xã hội. Một xã hội cực hữu tương đối thống nhất hiện diện ở khắp nơi khi mọi hiện tượng xã hội đều có thể quy về “bên ta” hay bên “kẻ thù”. Và, thói quen quy kết, chụp mũ đó đã tạo ra một thứ sản phẩm biện minh cho mọi sự vi phạm đối với quyền con người. Thực trạng ấy được Choi Hyondok mô tả là ngột ngạt và không hề được phản ánh qua báo chí hay các phương tiện truyền thông khác do chính sách kiểm duyệt chặt chẽ, do vậy bên ngoài cũng hầu như không biết gì về xã hội Hàn Quốc. Park Chung Hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và mòn mỏi ở trong tù. Nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết sự phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ là “cộng sản chủ nghĩa” là phương cách ưa thích và hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản [10].
Sau gần hai thập niên độc tài, Park Chung Hee đã đưa Hàn Quốc thoát khỏi nghèo đói bước vào hàng những quốc gia phát triển. Nhưng dựa vào độc tài, Park Chung Hee đã càng ngày càng kỳ thị với tự do, dân chủ nhân danh sự ổn định và phát triển. Ông cho rằng, Hàn Quốc cần phải phát triển kinh tế vững mạnh trước khi có thể có dân chủ. “Người Châu Á sợ hãi đói nghèo hơn là sợ độc tài. Các dân tộc châu Á muốn có bình đẳng kinh tế trước rồi sau đó mới xây dựng cơ chế chính trị công bằng hơn…, và viên ngọc chẳng có gì rực rỡ được gọi là chế độ dân chủ là vô nghĩa đối với những người đói khát và tuyệt vọng”. Thậm chí ông còn cho rằng, điều gì đúng với Hàn Quốc thì cũng đúng với châu Á [11]. Việc coi thường giá trị dân chủ đã làm cho không chỉ người dân mà cả những thân tín của ông trong nội các cũng cảm thấy công lao của họ đối với chế độ trở nên vô nghĩa. “Xét về mặt chính trị, Park Chung Hee là một gánh nặng của Hàn Quốc vì suốt thập niên 70, ông có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng tăng. Năm 1972, ông đã làm cho cả nước bị sốc trước tuyên bố thiết quân luật. Sau đó ông lại đưa ra hiến pháp mới chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức suy tôn làm Tổng thống trọn đời” [12]. Chính tay chân tin cẩn của ông đã ám sát hụt Park Chung Hee một lần vào năm 1974. Lần đó vợ ông đã phải tử nạn trong khi ông vẫn không vì thế mà bỏ dở bài phát biểu tại nhà hát quốc gia. Lần thứ hai là trong một bữa tiệc tối 26/10/1979, Kim Jae Kyu - Giám đốc cơ quan tình báo Hàn Quốc đồng thời là điệp viên trưởng của ông, đã nổ súng hạ gục ông cùng với chỉ huy trưởng nhóm vệ sỹ. Sau đó Kim Jae Kyu đã bị tử hình nhưng đến nay một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn phải thảo luận về việc có nên coi Kim Jae Kyu là người có công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.
Thời đại Park Chung Hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Bản thân Park Chung Hee chết trong sự phản bội của kẻ thân tín. Sự nghiệp chính trị của Park Chung Hee cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, những người căm ghét Park Chung Hee lại ngày một nhiều thêm.
IV.
Sau khi Park Chung Hee bị ám sát, Choi Kyu Ha lên nắm giữ chính phủ lâm thời, tình hình chính trị tại Hàn Quốc không thoát khỏi bất ổn. Ngày 12/12/1979, tướng Chun Doo Hwan đảo chính quân sự, lật đổ chính phủ lâm thời Choi Kyu Ha và ban bố tình trạng thiết quân luật.
Tháng 3/1980, sinh hoạt dân chủ bắt đầu bùng lên từ các trường đại học. Trí thức và sinh viên kêu gọi dỡ bỏ thiết quân luật. Ngày 15/5/1980 biểu tình lớn đã diễn ra ở ga Seoul, với sự tham gia của khoảng 100.000 giáo sư, sinh viên cùng thường dân.
Chun Dô Hwan, Tổng thống những năm 1980 - 1988. Bị kết án tử hình, sauđoó giảm xuống chung thân và trả tự do năm 1997
Ngày 17/5/1980, Chun Doo Hwan ra quyết định thực hiện thiết quân luật mở rộng. Quân đội được phái đến khắp Hàn Quốc. Cảnh sát đã đột kích vào một cuộc họp giữa các thủ lĩnh liên hiệp sinh viên của 55 trường đại học. 26 chính khách, trong đó có Kim Dae Jung, người về sau trở thành tổng thống Hàn Quốc (1998-2003), đã bị bắt vì tội chủ mưu biểu tình.
Ngày 18/5/1980, sinh viên Gwangju biểu tình lớn. Quân đội đàn áp. Một người biểu tình bị đánh đến chết. Cư dân Gwangju phẫn nộ và tham gia biểu tình ngày càng đông, lên tới 100.000 người vào ngày 20 tháng 5. Quân đội bất ngờ nã đạn. Người biểu tình đốt cháy trụ sở của đài MBC đặt tại Gwangju. 4 cảnh sát bị một chiếc ô tô đâm chết tại Tòa thị chính.
Bạo lực lên tới đỉnh điểm vào ngày 21/5/1980. Quân đội dùng hỏa lực tấn công đám đông làm nhiều người bị thương. Dân chúng dùng súng lấy được từ kho vũ khí và đồn cảnh sát để tự vệ. Cuộc đấu súng đẫm máu giữa dân với binh lính đã diễn ra tại Quảng trường văn phòng tỉnh. Đến 17 giờ 30, quân đội phải rút khỏi trung tâm thành phố. Từ ngày 21 đến 25/5/1980 xung đột xảy ra khắp nơi trong và ngoài Gwangju, hàng chục người bị chết và thương vong. Tin tức vụ tàn sát ở Gwangju truyền đi làm biểu tình bùng phát ở nhiều vùng lân cận như Hwasun, Naju, Haenam, Mokpo, Yeongam, Gangjin và Muan.
4 giờ sáng ngày 27/5/1980, quân đội từ 5 hướng vào trung tâm thành phố và đánh bại lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút.
Chưa có một con số chính xác về số người thiệt mạng. Những con số “chính thức” được công bố bởi Lệnh thiết quân luật sau đó cho biết có 144 thường dân thiệt mạng, 22 lính và 4 cảnh sát bị giết; 127 thường dân, 109 lính và 144 cảnh sát bị thương. Còn theo Hội gia đình những nạn nhân, ít nhất 165 thường dân chết trong khoảng 18/5 đến 27/5. 65 người khác hiện vẫn còn mất tích và được coi là đã chết. 23 lính và 4 cảnh sát bị giết trong suốt cuộc nổi dậy.
Chính quyền Chun Doo Hwan lên án cuộc nổi dậy như một vụ phản loạn bị xúi giục bởi Kim Dae Jung. Trong các phiên xét xử sau đó, ông Kim Dae Jung đã bị tuyên án tử hình trước khi được giảm nhẹ bởi sức ép của dư luận quốc tế [13]. 1394 người bị giam giữ do dính líu đến sự cố Gwangju, 427 người bị truy tố, trong đó 7 người phải nhận án tử hình, 12 người tù chung thân.
Từ 1983, hàng năm vào ngày 18/5, tại nghĩa trang Mangwol Dong ở Gwangju, lễ tưởng niệm những người bị thảm sát được tổ chức. Rất nhiều phong trào dân chủ đã yêu cầu chính phủ phải chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát đó.
Lo sợ về sự lộng quyền của chính thể độc tài đã làm cho Hàn Quốc buộc phải sửa đổi Hiến pháp và Luật Bầu cử Tổng thống năm 1987. Hiến pháp mớiquy định bầu Tổng thống bằng bỏ phiếu kín, trực tiếp. Trước đó suốt 16 năm, Tổng thống Hàn Quốc được bầu gián tiếp qua các đại cử tri. Từ năm 1987, Tổng thống Hàn Quốc có nhiệm kỳ là 5 năm và chỉ được phép làm một nhiệm kỳ. Sau bầu cử 1987, chính phủ buộc phải có ý kiến về sự kiện Gwangju. Năm 1988, Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý và đổi tên sự cố này thành “Phong trào dân chủ Gwangju”. Năm 1995, Quốc hội đã thông qua một đạo luật đặc biệt về sự kiện này. Những người chịu trách nhiệm đã bị khởi tố. Năm 1996, 8 chính khách bị truy tố với tội danh phản loạn và tàn sát. Bản án được thi hành vào năm 1997, cựu tổng thống Chun Doo Hwan nhận án chung thân. Tuy vậy tất cả những người bị kết tội đều được Tổng thống Kim Young Sam ân xá ngày 22 /12/1997.
12/1997, đảng đối lập đã chiến thắng trong cuộc bầu cử và đạt được sự chuyển giao quyền lực bằng con đường hoà bình. Đầu 1998 Kim Dae Jung lên làm tổng thống. Cũng từ năm 1997, ngày 18 tháng 5 được công nhận là một ngày lễ lớn ở Hàn Quốc. Năm 2002, nghĩa trang Mangwol Dong ở Gwangju được nâng cấpthành nghĩa trang quốc gia. Năm 2007, Hàn Quốc đã kỷ niệm 20 năm nền dân chủ được thiết lập tại đất nước này, nghĩa là tính từ khi đảng đối lập chiến thắng, cựu tử tù Kim Dae Jung trở thành tổng thống, “gõ cửa một thời đại mới”.
Gwangjiu năm 1980 và hiện nay
Tuy nhiên các chính thể độc tài kể từ thời Park Chung Hee đến Chun Doo Hwan vẫn để lại cho Hàn Quốc nhiều vấn đề nhức nhối không dễ giải quyết. Khi Roh Moo Hyun lên làm Tổng thống năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực và vi phạm nhân quyền dưới thời Park Chung Hee.
Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá. Tuy nhiên, theo Choi Hyondoc, chính quyền đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Choi Hyondoc cho rằng, chính quyền đã “bật xi nhan để rẽ sang phía tả”, nhưng lại lái Hàn Quốc sang phía hữu. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu (pseudo-NGOs) hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm cánh hữu, nhiều tổ chức hiện “vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài”. Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên quá phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột [14].
Kim Dae Jung, Tổng thống những năm 1998 - 2003.
Giải thưởng Nobel hoà bình năm 2000
 
Cùng với Hàn Quốc, sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Đài Loan, Singapore và Hồng Kông đã khiến nhiều người vào những năm 80 ít nhiều vẫn còn tán đồng với quan điểm của Park Chung Hee về một châu Á phải có kinh tế đi trước cùng với bàn tay sắt của chính quyền. Tuy nhiên cùng với thời gian, nhất là khi nhìn sâu hơn vào mối quan hệ giữa kinh tế và bầu không khí tinh thần của xã hội, các quan niệm về sự cứng rắn của chính quyền đã được nhìn nhận sâu sắc hơn.Cái giá phải trả cho phát triển kinh tế không thể là sự vô nhân đạo ở quy mô lớn, không thể là sự hy sinh cả sinh mạng và phẩm giá của một vài thế hệ, và cũng không thể dễ dàng xóa sạch di chứng tệ hại ở các thế hệ kế tiếp. Đúng như đánh giá của nhà báo kinh tế Michael Schuman: “Theo thời gian, mối tương quan giữa các nhà độc tài và sự phát triển suy yếu dần ở châu Á. Lý lẽ của Park Chung Hee hóa ra chỉ đúng với chính ông ta và ngày càng trở nên ít thuyết phục hơn”[15].
V. Kết luận
Tấm gương ngoạn mục về phát triển của Hàn Quốc, rất tiếc lại gắn liền với những bài học đau đớn về bộ mặt phản nhân văn của xã hội và sự chà đạp quyền con người. Bên cạnh nỗi đau khổ của hàng triệu dân chúng trong đó có hàng nghìn người thiệt mạng, thì ngay số phận của các tổng thống cũng không tránh khỏi bi đát. Trong 8 đời tổng thống kể từ Park Chung Hee (1961) đến nay, đã có tới 2 cuộc đảo chính, nhiều vụ ám sát hụt trong đó một lần thành công, 2 tổng thống bị kết án tù trong đó có 1 án chung thân, 1 tổng thống tự sát, 2 tổng thống từng bị tù đày vì dân chủ trong đó có 1 người từng nhận án tử hình. Thật đáng suy ngẫm, những bất hạnh này không đến từ “người anh em phương Bắc”, mà là sản phẩm của chính chế độ độc tài[16].
Thực tế này có thể bị che lấp bởi một Hàn Quốc thịnh vượng trong con mắt người bên ngoài, nhưng với người Hàn Quốc thì quá khứ chưa xa và không dễ quên. Cuối năm 2005 Hàn Quốc phải thành lập “Ủy ban sự thật và hòa giải” để giải quyết những vấn đề của thời độc tài. Nhưng đến nay, hồ sơ ngày một dày thêm và khi nhìn lại quá khứ thì một lần nữa “vết thương nào cũng rỉ máu” [17].
Phụ Lục:
GDP, HDI Hàn Quốc qua các năm
Số liệu của indexmundi.com/south_korea
Số liệu của UNDP (HDR 1990-2010)
 
Năm
 
GDP (PPP)
Tăng so với năm trước (%)
 
GDP
 
HDI
Xếp hạng HDI
 
Theo HDR
1975
1.310
 
 
 
 
 
1980
2.301,148
 
 
 
 
 
 1981
2.661,306
15,65
 
 
 
 
1982
3010,873
13,14
 
 
 
 
1983
3.459,846
14,91
 
 
 
 
1984
3.895,38
12,59
 
 
 
 
1985
4.270,865
9,64
 
 
 
 
1986
4.851,073
13,59
 
 
 
 
1987
5.549,251
14,39
 
 
 
 
1988
6.346,713
14,37
 
 
 
 
1989
6.961,878
9,69
 
 
 
 
1990
7.825,301
12,40
 
 
 
 
1991
8.802,16
12,48
 
 
 
 
1992
9.431,827
7,15
9.250
R.: 5.249
0,882
31/174
1995
1993
10.146,779
7,58
 
 
 
 
1994
11.156,583
9,95
 
 
 
 
1995
12.281,895
10,09
 
 
 
 
1996
13.287,953
8,19
 
 
 
 
1997
14.168,867
6,63
 
 
 
 
1998
13.413,028
-5,33
13.478
0,854
31/174
2000
1999
14.964,094
11,56
 
 
 
 
2000
16.494,567
10,23
 
 
 
 
2001
17.408,105
5,54
 
 
 
 
2002
18.849,398
8,28
16.950
0,888
28/177
2004
2003
19.696,819
4,50
17.971
0,901
28/177
2005
2004
21.138,102
7,32
 
 
 
 
2005
22.783,228
7,78
22.029
0,921
26/177
2007/2008
2006
24.662,133
8,25
 
 
 
 
2007
26.596,622
7,84
24.801
0,937
26/182
2009
2008
27.716,294
4,21
29.518
0,877*
12/169
2010
2009
27.938,217
0,80
 
 
 
 
2010
29.790,892
6,63
 
 
 
 
Nguồn: UNDP (HDR 1990-2010) &
 
http://www.indexmundi.com/south_korea/gdp_per_capita_(ppp).html(IMF)
 
Các đời Tổng thống Hàn Quốc 1948-2010
Thời gian
Tiếng Latinh
Tiếng Hàn
Tiếng Hán
 
Hán-Việt
Tiếng Anh
15/8/1948–22/3/1960
I/Ri Seung-man
이승만
李承晩
Lý Thừa Vãn
Syngman Rhee
12/8/1960–22/3/1962
Yun Bo-seon
윤보선
尹潽善
Doãn Phổ Thiện
Yun Po-sun
17/12/1963–26/10/1979
Bak Jeong-hi
박정희
朴正熙
Phác Chính Hy
Park Chung-hee
8/12/1979–16/8/1980
Choe Gyu-ha
최규하
崔圭夏
Thôi Khuê Hạ
Choi Kyu-ha
1/9/1980–25/2/1988
Jeon Du-hwan
전두환
全斗煥
Toàn Đẩu Hoán
Chun Doo-hwan
25/2/1988–25/2/1993
No Tae-u
노태우
盧泰愚
Lô Thái Ngu
Roh Tae-woo
25/2/1993–25/2/1998
Gim Yeong-sam
김영삼
金泳三
Kim Vịnh Tam
Kim Young-sam
25 / 2/ 1998–25/2/2003
Gim Dae-jung
김대중
金大中
Kim Đại Trung
Kim Dae-jung
25/2/2003–25/2/2008
No Mu-hyeon
노무현
盧武鉉
Lô Vũ Huyễn
Roh Moo-hyun
25/2/2008-nay
I Myeong-bak
이명박
李明博
Lý Minh Bác
Lee Myung-bak
 
Tài Liệu:
1.      Quế Anh, Quốc Hùng (2006). Cuộc đời đầy bão táp của tổng thống Hàn Kim Dae-jung http://antg.cand.com.vn/vi-vn/vuan/2006/8/70258.cand.
  1. Choi, Hyondok (2011). Xã hội dân sự và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc: nguyên lý công tính trong bối cảnh chủ nghĩa tự do mới. Trong sách: Viện Triết học (2011). Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường. Nxb KHXH.
  2. Chun Tae-il's Burning Himself to Death (2005). http://www.kdemocracy.or.kr/mail/newsletter/mail_article_200508_01.html
  3. Việt Dương. Park Chung Hee xây dựng kinh tế Đại Hàn. http://www.vietdc.org/wp-content/uploads/2008/10/park-chung-hee-xay-de1bbb1ng-kinh-te1babf-de1baa1i-han.doc
  4. Gibbons, Boyd (1980). The South Koreans, National Geographic. August.
  5. Goldner, Loren (2008). The Korean working class: From mass strike to casualization and retreat, 1987-2007. http://libcom.org/history/korean-working-class-mass-strike-casualization-retreat-1987-2007
  6. Park Chung Hee (1970). Our Nation’s Path: Ideology of Social Reconstruction. Seoul: Hollym. Tr. 196. (The gem without luster called democracy was meaningless to people suffering from starvation and despair).
  7. Park Chung Hee (1980). Major Speeches by Park Chung Hee. Seoul: Hollyon.
  8. IMF. South Korea: GDP per capita.http://www.indexmundi.com/south_korea/gdp_per_capita_(ppp).html
  9. Inglehart, Ronald & Christian Welzel (2009). How Development Leads to Democracy. Foreign Affairs”, March/ April.
  10. Keon, Michael - Korea Phoenix (1977). A Nation from the Ashes, Englewood Cliffs: Prentice - Hall International.
  11. Trường Khanh (2007).Hàn Quốc: Lật lại hồ sơ những vụ án gián điệp. http://vietbao.vn/The-gioi/Han-Quoc-Lat-lai-ho-so-nhung-vu-an-gian-diep/45230220/162/
  12. Sen, Amartya (1997), Human Rights and Asian Values, The New Republic, July 14-July 21. http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/sen.htm
  13. Schuman, Michael (2009). The Miracle. The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. HarperCollins Publishers. New York.
  14. Số phận khác nhau của một số cựu tổng thống Hàn Quốc (2009).http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/www.anninhthudo.vn/So-phan-khac-nhau-cua-mot-so-cuu-Tong-thong-Han-Quoc/2808258.epi.
  15. Todaro, Michael P. (1998). Kinh tế học cho thế giới thứ ba. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  16. UNDP. Human Development Report 1990-2010.
  1.  
  1.  


TỘI ÁC CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ NAM TRIỀU TIÊN (HÀN QUỐC) TRONG CUỘC CHIẾN ĐỐI VỚI NHÂN DÂN VIỆT NAM

  1. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 1

  2. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 2

  3. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 3

  4. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 4

  5. VIDEO: PHIM BINH LÍNH HÀN QUỐC TÀN SÁT NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH TRƯỚC 1975 ​

  6. ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC HÀN QUỐC XIN LỖI VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  7. THÀNH THẬT XIN LỘI VIỆT NAM

  8. NGƯỜI HÀN QUỐC KỶ NIỆM 41 NĂM VIỆT NAM KẾT THÚC CHIẾN TRANH: CON ƠI ĐỪNG QUÊN, GIỌT NƯỚC MẮT CỦA MẸ

  9. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ HÀN QUỐC VÀ VNCH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  10. CÁC VỤ THẢM SÁT ĐẪM MÁU DO BINH LÍNH HÀN QUỐC THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

  11. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA QUÂN ĐỘI HÀN QUỐC TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  12. 45 NĂM THẢM SÁT HÀ MY : THÀNH THẬT XIN LỖI VIỆT NAM

  13. 36 NĂM SAU VỤ THẢM SÁT "CÂY DA DÙ": HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAMĐÃ VƯỢT QUA CHÍNH MÌNH

  14. DI TÍCH VỤ THẢM SÁT BÌNH HÒA

  15. TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT 430 THƯỜNG DÂN BÌNH HÒA

  16. TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT DIÊN NIÊN - PHƯỚC BÌNH

  17. BÌNH ĐỊNH TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT GÒ DÀI

  18. VỤ THẢM SÁT BÌNH AN

  19. HỒ SƠ VỤ THẢM SÁT DUY TRINH

  20. BA VỤ THẢM SÁT KHÔNG THỂ LÃNG QUÊN

  21. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ HÀN QUỐC VÀ VNCH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Hành động dã man của LÍNH ĐÁNH THUÊ Hàn Quốc và VNCH trong chiến tranh Việt Nam


Đức giám mục Hàn Quốc xin lỗi về tội ác chiến tranh ở Việt Nam

WHĐ (21.12.2012) – Lên tiếng tại Hội nghị toàn thể lần thứ X Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC), một giám mục Hàn Quốc đã xin lỗi về tội ác chiến tranh do quân đội Hàn Quốc gây ra trong cuộc xung đột mà người Mỹ gọi là chiến tranh Việt Nam và người Việt Nam gọi là chiến tranh Hoa Kỳ. Hội nghị này vừa diễn ra tại giáo phận Xuân Lộc, Việt Nam, từ ngày 10 đến 16-12-2012.

Trong bài phát biểu riêng tại Hội nghị vào ngày 13-12, Đức giám mục Peter Kang U-il – giám mục giáo phận Tế Châukiêm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hàn Quốc, đã xin lỗi nhân dân Việt Nam vì quân đội Hàn Quốc đã sát hại 5.000 người dân trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến 1974. Theo nhiều nguồn tin, các lực lượng Hàn Quốc đã sát hại hơn 40.000 người Việt Nam trong các cuộc hành quân.

Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Đức giám mục Kang giải thích rằng đây là lần đầu tiên ngài đến Việt Nam, nên ngài cảm thấy phải xin lỗi vì các tội ác chiến tranh do quân đội Hàn Quốc gây ra tại đây nhiều chục năm trước. Ngài nói: “Đây là lời xin lỗi của cá nhân tôi, không phải nhân danh Hội đồng Giám mục Hàn Quốc, nhưng tôi tin các anh em giám mục của tôi cũng ủng hộ điều tôi đã làm”.

Theo Đức cha Kang, chỉ gần đây các tổ chức phi chính phủ tại Hàn Quốc mới phát hiện tài liệu về các vụ giết người nói trên dù đã có các tin đồn về vụ việc này từ lâu.

“Từ lâu chúng tôi đã nghe một số binh sĩ của chúng tôi thú nhận đã tham gia vào các vụ giết người, nhưng đa số người Hàn Quốc đã không hay biết gì về những việc quân đội chúng tôi đã làm. Chỉ gần đây các tổ chức phi chính phủ mới có bằng chứng và đã đến những nơi xảy ra các vụ giết người”.

Khi Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-Jung đến thăm Việt Nam vào năm 2001, ông đã xin lỗi vì nỗi thống khổ mà đất nước của ông gây ra cho người Việt Nam trong chiến tranh -dù không chủ ý-, nhưng đa số người Hàn Quốc vẫn không được biết về những tội ác đó hay về lời xin lỗi của vị cựu Tổng thống.

Đức cha Kang nói thêm: “Nếu Giáo hội không nói lên các vấn đề ấy, sẽ chẳng có ai nói đến. Các chính phủ thường núp dưới chiêu bài “an ninh quốc gia”.

Để chứng minh về việc chính phủ che giấu người dân, ngài đưa ra ví dụ về sự việc giết hại 30.000 người Hàn Quốc diễn ra trên đảo Tế Châu trong những năm trước cuộc xung đột Triều Tiên sáu thập kỷ trước. “Cho đến hôm nay, 90% người dân Hàn Quốc không được biết về những gì đã diễn ra ở Tế Châu. Chính phủ đã giấu nhẹm chuyện này. Giáo hội có trách nhiệm phải nói ra. Nếu chúng ta không nói thì ai sẽ nói?”

Ở Tế Châu, quân đội Hàn Quốc đã sát hại khoảng 30.000 người Hàn Quốc từ năm 1948 đến 1952. Quân đội Mỹ đã ra lệnh cho quân đội Hàn Quốc đổ bộ vào đảo để chấm dứt cuộc hỗn loạn nổ ra do việc giết hại sáu người được cho là thuộc “cánh tả” trong cuộc bầu cử hồi tháng Ba 1947. Các binh sĩ Hàn Quốc đã tàn sát người dân theo lệnh của Hoa Kỳ.

Trong khi đó, vị giám mục 67 tuổi đã đấu tranh trong suốt sáu năm để phản đối việc xây dựng một căn cứ hải quân mới trên đảo Tế Châu. Ngài cho rằng căn cứ này được nói là của hải quân Nam Hàn, nhưng thực ra được thiết kế làm cảng cho các tàu sân bay của hải quân Hoa Kỳ. Điều này chỉ tạo thêm căng thẳng không cần thiết ở khu vực Đông Á cũng như ở Hoa Kỳ.

Đức cha Kang khẳng định rằng căn cứ này sẽ chỉ làm cho người dân trong khu vực thêm lo sợ. Ngài dẫn lời của Đức giáo hoàng Gioan XXIII trong Thông điệp Pacem in Terris (Hòa bình trên trái đất, 1963): “... Nếu một quốc gia tăng cường sức mạnh quân sự, ngay lập tức các quốc gia khác sẽ phải gia tăng kho vũ khí của mình để cạnh tranh”.

Trong bài phát biểu, Đức cha Kang nói: “Các vị giáo hoàng thời hiện đại không ngừng kêu gọi giải trừ vũ khí. Tôi tin rằng nhiệm vụ của chúng ta là loan báo và nhắc nhở người dân châu Á học hỏi giáo huấn xã hội của Huấn quyền về hòa bình thế giới”.

(Theo fabc.org)

Minh Đức

 

Hãm hiếp và thảm sát dân thường của quân đội Hàn Quốc.


logo_qdnd.jpg - 5.91 kb
“Thành thật xin lỗi Việt Nam”
“Thành thật xin lỗi Việt Nam” (Forgive us Vietnam) – là tên của đĩa CD – tập hợp một số ca khúc bằng tiếng Hàn, được in bằng 3 ngôn ngữ: Việt Nam, Anh và Hàn, do Par Chi-un chịu trách nhiệm về âm nhạc (Music Directon), tổ chức “Ủy ban sự thật Hàn Quốc về chiến tranh Việt nam” (Korean Truth Committee on Vietnam War ) – một tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc, thực hiện.

Tôi có được đĩa CD này trong một chuyến đi công tác tại Hàn Quốc. Đối tác của chúng tôi là Đại học “Song Kong hoe” ở Xơ-un. Biết chúng tôi từ Việt Nam sang, điều phối viên của Chương trình đã đưa chúng tôi tới thăm “Ủy ban sự thật (của) Hàn Quốc về chiến tranh Việt Nam”....

Cuộc trao đổi của chúng tôi tại phòng khách của Ủy ban xoay xung quanh cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, đặc biệt là sự có mặt của lính Hàn Quốc – lực lượng quân sự mà chúng ta thường gọi là lính Pắc Chung Hy (tên của vị Tổng thống Hàn Quốc thời kỳ chiến tranh Việt Nam) tại miền Nam nước ta. Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự cởi mở, thẳng thắn của các bạn Hàn trong cuộc tọa đàm. Các bạn Hàn nói rằng, “nhân dân Hàn Quốc vô cùng kính trọng những người lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đã dám đương đầu với đế quốc Mỹ, giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh không cân sức, thống nhất được đất nước, điều mà người Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác đã không làm được”. Đến nay, Bán đảo Triều Tiên, vốn là một quốc gia thống nhất đã trở thành hai quốc gia riêng biệt. Người Hàn Quốc đang phải làm cái công việc mà gần 30 năm trước người Việt Nam đã làm xong.

Đĩa CD "Thành thật xin lỗi Việt Nam"

 

Về ý kiến của mình, chúng tôi đánh giá cao những thành tựu về kinh tế-xã hội của Hàn Quốc và rằng Hàn Quốc là một mô hình kinh tế cho nhiều quốc gia có thể học hỏi…  Các bạn Hàn Quốc không thật sự đồng tình với cách đánh giá của chúng tôi và nói rằng: “Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, thống nhất đất nước mới là giá trị vững bền và cao nhất của một dân tộc”. Sự có mặt của lính Hàn Quốc tại Việt Namhoàn toàn không phải vì hai quốc gia có hận thù, không phải vì lợi ích của người Hàn Quốc mà chỉ vì lợi ích của một nhóm cầm quyền do Pắc Chung Hy cầm đầu… Các bạn Hàn Quốc cho biết, vào thời kỳ đó (những năm 60) cứ mỗi lính Hàn Quốc tham gia chiến tranh Việt Nam thì được Mỹ trả 50 USD/ người/tháng. Số tiền này Mỹ trả cho chính quyền Pắc Chung Hy.

Nghĩ về tội ác vô cùng dã man của lính Hàn Quốc và cái giá mà họ đã phải trả bằng máu trước các đòn trừng phạt của Quân giải phóng, chúng tôi hiểu ra rằng trong chiến tranh thủ phạm và tòng phạm đều phải trả giá cho những tội ác của mình. Điều đó cũng có nghĩa, trong thời đại ngày nay, những ai xâm phạm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của dân tộc khác đều làm tổn thương đến lợi ích của chính dân tộc mình và không khỏi phải trả giá đắt trong tương lai… Các bạn Hàn Quốc trong cuộc tọa đàm luôn luôn bày tỏ sự hối tiếc, ân hận về việc làm của chính phủ Pắc Chung Hy và tội ác của binh lính Hàn Quốc tại miền Nam Việt Nam.

Các bạn Hàn cho biết, sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam, về việc binh lính Hàn Quốc tham gia cuộc chiến tranh, nhất là tội ác của binh lính Hàn Quốc đã gây ra tại miền Nam đã bị chính phủ đương thời giấu kín và vẫn còn là một vấn đề tế nhị về chính trị ở Hàn Quốc, vì ở nơi đây vẫn còn nhiều gia đình có con em bị chết trong chiến tranh, nhiều cựu chiến binh Hàn Quốc đã mất một phần thân thể bởi cuộc chiến tranh này. Tuy vậy, khi sự thật về cuộc chiến tranh được đưa ra ánh sáng, nhiều người Hàn đã không khỏi bàng hoàng.

Các bạn Hàn Quốc cố gắng “thuyết phục” chúng tôi rằng: Người Hàn Quốc rất thân thiện, nhân dân Hàn Quốc luôn yêu chuộng hòa bình và rất quý trọng Việt Nam... Những tội ác mà binh lính Hàn Quốc gây ra thuộc về chính phủ Mỹ và chính quyền tay sai Pắc Chung Hy. Chúng tôi an ủi các bạn Hàn rằng, thế hệ các bạn hôm nay không phải chịu trách nhiệm trực tiếp về các tội ác của Chính phủ Pắc Chung Hy và binh lính Hàn Quốc gây ra. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trong đó có Hàn Quốc.

Nói về mục tiêu của Ủy ban, các bạn Hàn cho biết: Ở Hàn Quốc có nhiều cá nhân và tổ chức xã hội có chung mục tiêu với Ủy ban. Không chỉ nói về mình, các bạn Hàn còn nói về nhà báo Choe Hak Rae, người đã dũng cảm đưa sự thật về tội ác của binh lính Hàn Quốc tại Việt Nam lên Báo Hankyorech… Một trong những thành quả của các cá nhân tổ chức làm rõ sự thật về chiến tranh Việt Nam là công viên Hòa Bình đã được xây dựng tại tỉnh Phú Yên, chính nơi binh lính Hàn Quốc đã gây ra nhiều cuộc thảm sát trước đây, bằng nguồn tài chính đóng góp tự nguyên của người dân xứ Hàn. Chúng tôi vô cùng xúc động và tự hào khi chủ tịch Ủy ban cùng tất cả các bạn Hàn Quốc tham gia cuộc tọa đàm đứng lên trao đĩa CD “Thành thật xin lỗi Việt Nam” cho chúng tôi. Vị giám đốc đã hai tay cầm đĩa CD, với vẻ mặt đau buồn cúi người rất thấp trao tặng phẩm cho tôi khi thấy tôi đứng lên. Tôi trân trọng nhận đĩa CD và nói: “Tôi không đủ tư cách để nhận lời xin lỗi lớn và tình cảm sâu sắc của các bạn nhưng tôi sẽ chuyển lời xin lỗi này tới Quốc hội và nhân dân Việt Nam qua báo chí và các hoạt động của Viện chúng tôi” (Viện Nghiên cứu quyền con người, thuộc Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh).

Đến lượt mình, chúng tôi cũng được an ủi bởi trong đoàn không có ai là không có người thân đã hy sinh, không có gia đình nào là không có những mất mát trong cuộc chiến tranh này, tất cả đều được chia sẻ một phần lời xin lỗi của các bạn Hàn. Chúng tôi thầm cảm ơn đồng bào, đồng chí, những người lính đã đổ xương máu giành lại độc lập – tự do, thống nhất đất nước để hôm nay chúng tôi có thể tự tin, tự hào về dân tộc, về nhân dân, về Đảng và về Quân đội anh hùng của chúng ta.

TS. Cao Đức Thái


Mại dâm ở Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 

Mại dâm ở Thái Lan bao gồm các thống kê và pháp luật liên quan đến tình hình mại dâm tại Thái Lan, như số lượng người bán dâm cũng như những quy định của pháp luật về hành vi mua bán dâm, chủ chứa, môi giới mại dâm...

 

Pháp luật

Tại Thái Lan, mại dâm bất hợp pháp và bị luật pháp nghiêm cấm. Đạo luật năm 1960, tiếp đó là Đạo Luật phòng chống mại dâm, BE. 2539 (1996) đã quy định cấm các hành vi mua bán dâm. Mua bán dâm sẽ bị phạt 1 tháng tù và/hoặc 1.000 baht (khoảng 40 USD), mua dâm trẻ em có thể bị tù 6 năm, còn chủ chứa sẽ bị phạt tù 3-15 năm.[1]

[2][3]. Mua dâm trẻ em dưới 18 tuổi bị phạt 4-20 năm tù và phạt tiền 80.000 - 100.000 baht[4]. Năm 2003, Bộ Tư pháp Thái Lan đã từng đề xuất thảo luận về việc hợp pháp hóa mại dâm.[5]. Tuy nhiên, do vấp phải sự phản đối của dư luận và những lo ngại về hệ lụy xã hội nên đề xuất bị bãi bỏ.

 
Ẩn sau gái mại dâm Thái Lan là 2 ma cô (1 kẻ cầm sổ). Ảnh chụp của phóng viên Cục phòng chống buôn người Hoa Kỳ

Luật là như vậy, nhưng trong thực tế, các nhà thổ lại hoạt động công khai dưới sự bảo kê của Mafia và sự làm ngơ (thậm chí hợp tác bảo kê) của chính quyền địa phương. Sự trái ngược giữa pháp luật và việc thực thi lớn đến nỗi nhiều người lầm tưởng mại dâm ở Thái Lan là hoàn toàn hợp pháp. Ở khía cạnh khác, nó cũng cho thấy sự yếu kém, "tiền hậu bất nhất" của hệ thống pháp luật Thái Lan, và thậm chí là cả sự lũng đoạn chính quyền địa phương của tội phạm có tổ chức. Ước tính có hơn 60 ngàn nhà thổ ở Thái Lan, còn nhiều hơn số trường học ở nước này[6].

Nhìn qua vẻ ngoài quy củ của các phố đèn đỏ, nhiều người nước ngoài cho rằng chính phủ Thái Lan đã tổ chức tốt mại dâm và điều đó sẽ làm giảm tác hại mà mại dâm gây ra (như hối lộ, bảo kê, ma túy...). Nhưng thực tế, những góc khuất tội ác ẩn sau các khu đèn đỏ này khác xa so với họ vẫn tưởng. Chính phủ Thái Lan không hề quản lý các khu đèn đỏ, nắm quyền kiểm soát là các băng đảng tội phạm. Các phố đèn đỏ Thái Lan là nơi ẩn náu an toàn của những thế lực tội phạm khét tiếng như Hội Tam Hoàng hay Yakuza. Cuộc đời của người bán dâm tại Thái Lan thực tế luôn đầy rẫy hiểm nguy, bệnh tật, cũng như phải chịu sự kì thị của cộng đồng vốn thấm nhuần tinh thần Phật giáo (giáo lý đạo Phật lên án chuyện gian dâm ngoài vợ chồng).

Năm 2014, cảnh sát Thái Lan bắt đầu truy quét mại dâm ở khu phố đèn đỏ ở Pattaya trong một chiến dịch nhằm làm trong sạch hình ảnh thành phố du lịch nổi tiếng. Chính quyền thành phố đang nỗ lực cải thiện hình ảnh tai tiếng về "du lịch tình dục" và tội phạm tại Pattaya bằng những chiến dịch tuần tra hàng đêm ở phố đi bộ. Trước đây, thỉnh thoảng cảnh sát vẫn truy quét ở phố đèn đỏ, nhưng từ khi một nhà lãnh đạo mới và cứng rắn hơn chỉ huy lực lượng cảnh sát Pattaya, chiến dịch đã được đẩy mạnh[7]

Thống kê

Trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam, Mỹ đã ký một hiệp định với Thái Lan năm 1967 để cung cấp mại dâm cho binh sĩ. Hiệp định này mở cửa cho luồng đôla của lính Mỹ đổ vào Thái Lan, đổi lại là thân xác phụ nữ Thái Lan trở thành "món đồ chơi" trong tay lính Mỹ. Liên tục từ năm 1962 tới 1976, gần 700.000 lính Mỹ được đưa tới các nhà thổ ở Thái Lan mỗi năm. Tệ nạn mại dâm đã thực sự "bùng nổ" tại Thái Lan trong thời kỳ này. Năm 1957, ước tính Thái Lan có 20 ngàn gái mại dâm, thì tới năm 1964 đã tăng vọt lên 400 ngàn và năm 1972 là 500 ngàn[8], và duy trì ở mức đó cho tới nay. Doanh số của mại dâm Thái Lan ở thập niên 1990 được ước tính còn lớn hơn cả buôn ma túy[9].

Về mặt xã hội, ước tính 95% nam giới Thái Lan trên 21 tuổi đã từng quan hệ với gái mại dâm.[10] Một khảo sát năm 1992 cho biết 97% nam thanh niên thường xuyên tìm đến gái mại dâm[11] Tình trạng này tạo nên một tâm lý xã hội coi phụ nữ chỉ như một thứ đồ chơi tình dục cho đàn ông, và đến lượt tâm lý này sẽ kích thích những hành vi tội phạm tình dục. Kết quả là Thái Lan có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất Đông Nam Á (~7-8 vụ/100 ngàn dân, gấp 2 lần Philipines, 3 lần Singaporevà gấp 5 lần Việt Nam[12]).

Nếu coi hành vi mua dâm trẻ em cũng là hiếp dâm thì tỷ lệ hiếp dâm của Thái Lan sẽ còn cao hơn con số trên hàng trăm lần, bởi Thái Lan cũng là điểm đến hàng đầu của những kẻ ấu dâm (thích quan hệ tình dục với trẻ em). Khoảng 310.000 trẻ em gái Thái Lan phải bỏ học mỗi năm, và rất nhiều trong số đó đã đi bán dâm. Về chính thức, quan hệ tình dục với người dưới 18 tuổi là bị cấm, nhưng ước tính vẫn có tới 40% gái mại dâm ở nước này là trẻ em dưới 16 tuổi[13]. Ước tính 55% gái mại dâm Thái Lan bắt đầu bán dâm khi chưa đầy 18 tuổi[14]

Tỷ lệ thất học cao ở Thái Lan là điều kiện lý tưởng cho mại dâm và buôn ngườiphát triển

Thực trạng các quan chức và cảnh sát nhận hối lộ để làm ngơ cho các ổ mại dâm là rất phổ biến. Năm 1997, ước tính có 20-30 nghị sĩ dính líu tới các đường dây mại dâm[15][16]. Chuwit Kamolvisit, được coi là "ông trùm của mại dâm Thái Lan", nói rằng ông ta đã hối lộ khoảng 1,5 triệu bảng Anh (khoảng 3 triệu đôla) trong suốt 10 năm cho các chính khách và cảnh sát để họ làm ngơ cho việc kinh doanh tình dục của ông ta.[17] Chuwit Kamolvisit sau đó còn dùng tiền thu được từ mại dâm để vận động tranh cử nhằm tìm cách tiến thân vào giới chính trị gia. Marut, một ma cô nổi tiếng ởPattaya và có liên hệ với Mafia Nga, cho biết: Hơn 60% khách hàng của Marut chính là các quan chức chính phủ, bao gồm cả cảnh sát. Marut gọi đó là "dịch vụ đặc biệt" cho các nhân vật uy quyền.[18]

Theo UNODC, Thái Lan là một điểm đến hàng đầu của bọn buôn người làm nô lệ tình dục[19]. Hầu hết phụ nữ bị buôn bán đến từ Myanma, Campuchia, Lào và Trung Quốc. Với đường biên giới dài và hiểm trở của Thái Lan, bọn buôn người có thể dễ dàng vượt biên mà không cần giấy tờ.[20] Phụ nữ từ Thái Lan cũng bị buôn bán tới nhiều nước, đặc biệt là Hà Lan và Đức ở châu Âu, Nhật Bản, Austrlia, Ấn Độ, Malaysia và các quốc gia Trung Đông.[21][22][23] Năm 1991, mỗi phụ nữ Thái Lan bị bán cho Mafia Nhật với giá 2.400 - 18.000 USD mỗi người.[6] Năm 2006, một nô lệ tình dục đã trốn thoát sau khi giết chết chủ chứa và tố cáo một đường dây mại dâm do Mafia Nhật (Yakuza) tổ chức, gây chấn động dư luận về sự thực đen tối ẩn sau"những ảo tưởng về hợp pháp hóa mại dâm để kiểm soát"[24]

Các khu đèn đỏ ở Thái Lan là tụ điểm của các nhóm tội phạm có tổ chức người Hoa (nhiều nhóm có liên hệ với Hội Tam Hoàng) chuyên buôn người, buôn ma túyvà tống tiền. Cảnh sát Thái Lan gọi đó là "Các băng nhóm heo con".[25] Thành phố Pattaya có một ngành công nghiệp tình dục nhiều tỷ đôla với các đường dây chuyên buôn bán ma túy, rửa tiền và buôn bán phụ nữ xuyên quốc gia.[26] Nhiều nhóm tội phạm Nga đã thiết lập hoạt động mại dâm, ma túy và giết mướn ẩn sau các doanh nghiệp hợp pháp như các quán bar và nhà hàng ở Pattaya[27]. Các trang web du lịch thì khuyến cáo du khách phải cẩn thận nếu đi vào các khu đèn đỏ như Patpong bởi những nơi này có tỷ lệ tội phạm tụ tập rất cao, nếu không đề phòng có thể bị lừa hoặc tệ hơn là bị cướp.[28]

Bệnh dịch do mại dâm đem lại cũng lan tràn, bệnh AIDS đã trở thành vấn nạn lớn với Thái Lan. Năm 2010, Sở kiểm soát dịch bệnh Thái Lan (DDC) ước tính rằng 40% người bán dâm đã không sử dụng bao cao su. Báo cáo năm 2008 của DDC cho biết có 532.522 người Thái nhiễm HIV, chiếm 1,3% dân số trưởng thành, là tỉ lệ "cao nhất ở châu Á" và thứ 4 thế giới.[29][30], con số thực có thể còn lớn hơn thế rất nhiều[31], mà một trong các nguyên nhân chính là do nạn mại dâm gây ra.

Đặc biệt, có nhiều chàng trai Thái Lan vì gia cảnh nghèo, đã vay mượn tiền để giải phẫu chuyển giới thành nữ giới để đi bán dâm, trở thành thứ mà người ta gọi là "Thái giám thời hiện đại", và Thái Lan giờ trở thành cái tên gợi cho nhiều người liên tưởng tới "những gã đàn ông bệnh hoạn thích đội lốt nữ giới".

Kritaya Archavanitkul, nhà hoạt động vì quyền con người Thái Lan, nói:

"Đáng buồn mà nói, cấu trúc xã hội Thái Lan có xu hướng chấp nhận mại dâm. Và có thể, chúng ta có những tổ chức Mafia tham gia vào các đảng phái chính trị, điều này sẽ giúp tệ nạn mại dâm bị lờ đi. Lý do thứ hai là yếu tố văn hóa, ở Thái Lan, hành vi mua dâm của người đàn ông được chấp nhận. Các chính khách, chủ yếu là nam giới, tất nhiên, họ không thấy mại dâm là một vấn đề. Họ biết có nhiều phụ nữ tham gia vào tệ nạn mại dâm ở Thái Lan. Họ biết rằng một số bị đối xử bạo lực và tàn bạo. Nhưng họ không nghĩ rằng đó là một hình ảnh khủng khiếp. Và, bởi vì lợi nhuận béo bở lôi cuốn nhiều người tham gia và cả việc hối lộ, cho nên các chính khách đã nhắm mắt làm ngơ cho tệ nạn này".[32].

Một gái bán hoa ở Bangkok có tên Pim cho biết, họ sẽ bị chủ chứa trừng phạt nếu không kiếm đủ khách, đồng thời thường xuyên bị khách mua dâm đe dọa và bạo hành. Họ không dám bỏ trốn vì lũ ma cô dọa sẽ tiết lộ chuyện bán dâm, khiến cho gia đình họ xấu hổ và nhục nhã. Rất nhiều khách làng chơi thích bé gái hoặc thiếu nữ nên những chủ chứa thường tìm cách săn lùng, lừa gạt trẻ vị thành niên từ các ngôi làng nông thôn. Cô cho biết:

"Người nước ngoài cho rằng cứ trả tiền là được quan hệ tình dục ở Thái Lan vì cho rằng các cô gái ở đây thực sự muốn làm chuyện đó mà không hiểu rằng, phần lớn gái bán hoa ở đây không có sự lựa chọn nào khác và họ luôn mong được giải thoát".

Cuốn tự truyện của Thanadda Sawangduean, 42 tuổi, một phụ nữ Thái Lan từng làm gái mại dâm, đã được trao giải thưởng Chommanard năm 2010. Cô đã bị lừa bán làm gái mại dâm ở Pattaya. Tại mỗi nơi bị lừa tới, cô đều bị đánh đập. Sawangduean cũng từng bị bắt dùng ma túy tống vào tù do tàng trữ chất gây nghiện. Cô chia sẻ trên tờ Bangkok Post:

"Tôi đã lún sâu vào con đường nhơ nhớp và giờ phải chịu những ám ảnh cả về thể xác lẫn tâm hồn. Thông qua cuốn sách, tôi muốn chia sẻ những trải nghiệm cuộc đời và xem đây như một bài học cho những ai đi nhầm đường lạc lối". Ban giám khảo cho biết, cuốn sách đã phản ánh sâu sắc vấn nạn mại dâm mà xã hội Thái đang phải đối mặt.[33]

Tham khảo

  1. ^ Finch, James; Tangprasit, Nilobon (ngày 24 tháng 4 năm 2011). “Criminal Law in Thailand Part LX: Sex crimes - the prostitute”. Bangkok Post.
  2. ^ Finch, James; Tangprasit, Nilobon (ngày 1 tháng 5 năm 2011). “Criminal Law in Thailand Part LXI: Sex crimes - prostitutes and their customers”. Bangkok Post.
  3. ^ Finch, James; Tangprasit, Nilobon (ngày 8 tháng 5 năm 2011). “Criminal Law in Thailand Part LXII: Sex crimes - underage prostitutes”. Bangkok Post.
  4. ^ Aphaluck Bhatiasevi, "Influx of Burmese sex workers via Mae Sai," Bangkok Post, ngày 2 tháng 6 năm 1997
  5. ^ “Thailand mulls legal prostitution”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015.
  6. a ă CATW - Asia Pacific, Trafficking in Women and Prostitution in the Asia Pacific
  7. ^ http://news.zing.vn/Canh-tuong-truy-quet-gai-ban-dam-o-Thai-Lan-post460177.html
  8. ^ Gay, Jill, "The 'Patriotic Prostitute," The Progressive, February 1985: page 34
  9. ^ Authorites and activists, Kulachada Chaipipat, "New law targets human trafficking," The Nation, 30 Novermber 1997
  10. ^ Handley, Paul "Catch if catch can," Far Eastern Economic Review, 13 February, 1992: page 29
  11. ^ Sense about sex, The Economist, 8 February, 1992: page 33
  12. ^ http://www.unodc.org/documents/data-and-analysis/statistics/crime/CTS12_Sexual_violence.xls
  13. ^ Centre for the Protection of Children’s Rights, Chris Gelken, "Row Over Call to Boycott ‘Paedophile Playground’," Gemini News, ngày 28 tháng 2 năm 1997
  14. ^ Mahidol University Institute for Population and Social Research, Aphaluck Bhatiasevi, "Child Prostitute Problem Worrying," Bangkok Post, ngày 28 tháng 7 năm 1998
  15. ^ Chulalongkorn University, "There’s money everywhere for Thai police," The Nation, ngày 25 tháng 2 năm 1997
  16. ^ Vicha Mahakhun, Deputy Chief Justice of the Central Juvenile and Family Court, "Judge blames officials for rise in child abuse," Piyanart Srivalo, The Nation, ngày 26 tháng 7 năm 1997
  17. ^ http://www.theguardian.com/lifeandstyle/2004/feb/21/weekend.adrianlevy
  18. ^ Pattaya: Murder, prostitution and tourists," Bangkok Post, ngày 22 tháng 4 năm 1998
  19. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/6497799.stm
  20. ^ The International Encyclopedia of Sexuality, Volume I–IV 1997–2001, edited by Robert T. Francoeur
  21. ^ Trafficking of Women to the European Union: Characterisitics, Trends and Policy Issues," European Conference on Trafficking in Women, (June 1996), IOM, ngày 7 tháng 5 năm 1996
  22. ^ Preecha Sa-Ardsorn, "Saudi woman procurer surrenders before police," The Nation, ngày 19 tháng 7 năm 1998
  23. ^ Supalak Ganjanakhundee, "Migrant workers booming as Asian economy declines," Kyodo News, ngày 23 tháng 9 năm 1998
  24. ^ http://www.nationmultimedia.com/search/page.arcview.php?clid=3&id=126551&date=2006-01-23
  25. ^ [1]
  26. ^ Mark Baker, "Sin city can’t shake vice’s grip," Sydney Morning Herald, ngày 17 tháng 5 năm 1997
  27. ^ Superintendent of Pattaya police station Police Coronel Pinit Satyacharoen, Preecha Sa-Ardsorn, "Police worry Russian mafia getting stronger," The Nation, ngày 9 tháng 4 năm 1998
  28. ^ http://www.virtualtourist.com/travel/Asia/Thailand/Central_Eastern_Thailand/Bangkok-1445238/Warnings_or_Dangers-Bangkok-Crime-BR-1.html
  29. ^ “The World Factbook”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015.
  30. ^ “ahrn.net”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015.
  31. ^ Sutin Wannabovorn, "Thai Prime Minister vows end prostitution, AIDS victims react," Reuters, ngày 29 tháng 7 năm 1997
  32. ^ http://globetrotter.berkeley.edu/conversations/Kritaya/krit-con3.html
  33. ^ http://bee.net.vn/channel/1987/201012/Tu-truyen-cua-gai-ban-dam-Thai-Lan-gianh-giai-thuong-1784160/
  1.  


Phố đèn đỏ ở Thái Lan


Gái mại dâm bị đánh đập dã man ở Thái Lan


Thâm nhập phố đèn đỏ với những cô gái mời chào khách ở Thái Lan - Pattaya Girls Walking Streett

FaceBook  Twitter  

Đang xem 586

Hôm nay 1,899

Tổng lượt xem 12,904,433